Ngày 17.7.2012 là một trong những phiên giao dịch kịch tíNh nhất của sàn giao dịch chứng khoán Mỹ khi hết lao dốc lại hồi phục mạnh, biến động theo từng lời phát biểu trước Quốc hội của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Ben Bernanke. Theo đó, ông đã nhận xét bi quan về viễn cảnh kinh tế Mỹ và sau đó tuyên bố sẵn sàng thực hiện bất kỳ biện pháp nào để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều này đã khiến cho thị trường kỳ vọng Fed sẽ tung ra một gói nới lỏng định lượng thứ ba nhằm kích thích kinh tế. Đó là một trong rất nhiều lần giới đầu tư chăm chú theo dõi các phát biểu của Bernanke cũng như các báo cáo của Fed để dự đoán những bước đi mà cơ quan này sẽ thực hiện.
Hiểu rõ điều ấy, Bernanke đã rất thận trọng khi phát biểu vì biết chỉ cần mình lỡ lời cũng có thể dẫn đến những hậu quả tai hại.
Việt Nam, trong những năm gần đây, liên tục bị tụt hạng trong bảng xếp hạng lợi thế cạnh tranh của các tổ chức quốc tế, trong khi các dòng vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chậm lại, thậm chí có nguy cơ rời khỏi Việt Nam. Hai trong số những nguyên nhân là sự không ổn định về mặt vĩ mô và tính không dự báo được của chính sách.
Là nhà điều hành tổng thể nền kinh tế, những phát ngôn, động thái của Chính phủ luôn được thị trường chú ý để từ đó dự báo hướng đi của nền kinh tế. Một sự sai lệch về mặt thông tin có thể sẽ gây khó khăn cho việc dự báo của doanh nghiệp và người dân, thậm chí gây hoang mang. Vì vậy, sự thận trọng trong công bố thông tin là điều cần thiết. Thế nhưng, các quan chức chính phủ đã có không ít lần "lỡ lời".
Chẳng hạn, hôm 5.8, khi được hỏi về việc liệu thành lập các công ty mua bán nợ xấu có ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia, một đại diện của Chính phủ đã trả lời “sẽ không lấy tiền thuế của dân để cứu doanh nghiệp”. Lời phát biểu này dường như không có cơ sở. Nếu không lấy tiền từ ngân sách hay tiền đóng thuế của người dân thì chỉ còn lại các nguồn khác mà Chính phủ có thể tài trợ như phát hành trái phiếu chính phủ, in thêm tiền hoặc sử dụng viện trợ nước ngoài.
Nếu phát hành trái phiếu chính phủ, số tiền dùng để chi trả nợ vay trong tương lai chẳng phải từ ngân sách quốc gia là gì? Hoặc nếu phát hành thêm tiền thì liệu có ngăn chặn được nguy cơ thuế lạm phát bào mòn thu nhập của người dân giống như các năm qua (lạm phát được xem là một loại thuế vì có tác động làm giảm thu nhập như thuế)? Một nguồn khác có thể sử dụng là viện trợ nước ngoài, nhưng liệu các định chế tài chính quốc tế có sẵn lòng viện trợ cho Việt Nam để mua lại nợ xấu của nền kinh tế?
Dù muốn hay không, để xử lý một phần hay toàn bộ nợ xấu, Chính phủ sẽ phải sử dụng ngân sách quốc gia. Vì vậy, cần phải cân nhắc trước khi phát ngôn để tránh nhầm lẫn cũng như việc không thể thực hiện được.
Những công bố thông tin về hoạt động ngân hàng cũng gây nhiễu cho thị trường. Tất cả các tỉ lệ nợ xấu được Ngân hàng Nhà nước công bố từ đầu năm đến nay đều nhỏ hơn con số gây sốc 10% mà chính Thống đốc Ngân hàng Nhà nước báo cáo trước diễn đàn Quốc hội hồi tháng 3. Việc có khá nhiều con số nợ xấu như thế đã khiến bức tranh về ngành ngân hàng càng thêm rối mù. Thậm chí, cho đến giờ, con số nợ xấu chính xác là bao nhiêu vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Những thông tin gây nhiễu như vậy sẽ gây khó khăn cho công tác dự báo cũng như tìm ra phương thuốc chữa bệnh hiệu quả.
“Lãi suất tối đa 15% sẽ giữ ổn định trong vòng 1 năm”. Lời phát biểu gần đây của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay cũng đã gây ra tranh cãi. Lãi suất cho vay phải theo quy luật cung cầu của thị trường và theo mục tiêu lạm phát kỳ vọng. Mức 15% vẫn là quá cao đối với doanh nghiệp Việt Nam và liệu họ có thể chịu đựng được gánh nặng đó trong vòng 1 năm khi sức đã cùng, lực đã kiệt?
Vào đầu năm nay, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng tuyên bố nếu tình hình thuận lợi thì mỗi quý sẽ giảm lãi suất huy động thêm 1 điểm phần trăm. Thế nhưng, chưa đến giữa năm, vào ngày 11.6, lãi suất đã giảm tổng cộng 5 điểm phần trăm, vượt xa dự đoán của các tổ chức tài chính. Đáng lẽ những phát biểu như thế phải được đưa ra một cách thận trọng vì nếu lãi suất được dự báo hạ từ từ thì kế hoạch huy động vốn cũng như kinh doanh của các ngân hàng, doanh nghiệp có thể đã khác so với viễn cảnh thấp thỏm về lãi suất như thời gian vừa qua.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng là một chuyện đáng nói. Đến tháng 7, Việt Nam đã thu hút hơn 8 tỉ USD vốn FDI, giảm đến 33,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Thế nhưng, Cục Đầu tư Nước ngoài vẫn tự tin khi cho rằng FDI năm nay vẫn có thể đạt được mục tiêu 15-16 tỉ USD. Liệu nhận định đó có quá lạc quan trong điều kiện môi trường kinh doanh cả trong lẫn ngoài nước đều bất ổn như hiện nay?
Cần nói thêm rằng, tình hình trong nước đã chịu tác động khá lớn của những biến động bên ngoài, nhất là cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đang ngày càng diễn biến phức tạp. Vì thế, khó tránh khỏi việc một số nhận định hay dự báo, đánh giá đã không dựa trên thực tế. Tuy nhiên, trong điều kiện nhạy cảm như thế, các quan chức cấp cao càng phải thận trọng trong phát ngôn để tránh gây hoang mang cho thị trường, khiến tính hiệu quả của các chính sách điều hành vĩ mô bị hạn chế. 