Trang 1 / 5
Theo khảo sát của tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor (Anh), lĩnh vực thời trang may mặc Việt Nam tăng trưởng bình quân 16%/năm với doanh thu bán lẻ đạt 1,95 tỉ USD năm 2008 và dự kiến đạt 2,6 tỉ USD năm 2010. Tổ chức này còn dự báo đến năm 2012, doanh thu của ngành sẽ đạt trên 3 tỉ USD. Bên cạnh đó, với cơ cấu dân số 57% dưới 25 tuổi và 78% dưới 39 tuổi (theo nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường TNS), ngành thời trang Việt Nam được tin tưởng sẽ đem lại lợi nhuận vững chắc trong thời gian tới.
Tiềm năng to lớn của lĩnh vực này đã thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia, nhưng cũng từ thị trường hấp dẫn này, có thể nhìn thấy một khoảng cách lớn giữa thương hiệu quốc tế và nội địa. Hiện có gần 140 thương hiệu thời trang ngoại có mặt tại Việt Nam, chiếm hơn 60% thị trường (tính cả hàng thật lẫn hàng giả). Các thương hiệu này được phân thành 2 cấp độ: tầm trung (với các thương hiệu châu Á như Giordano, Bossini…) và cao cấp (các thương hiệu toàn cầu như Mango, D&G, Gucci,...). Trong khi đó, các thương hiệu nội địa chiếm khoảng 40% thị trường còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay như: PT2000, Blue Exchange, Vietthy, Foci, các thương hiệu của Thời trang Việt (Ninomaxx, N&M, Maxx Style), một số dòng sản phẩm của Việt Tiến (T-up, Manhattan, Việt Long), An Phước...
Chỉ 10-20% trong chuỗi giá trị!
Khoảng cách giữa thương hiệu nước ngoài và nội địa không khó lý giải. Theo ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thêu đan, doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới khai thác khoảng 10-20% chuỗi giá trị của sản phẩm thời trang, nghĩa là phần đông chỉ mới dừng lại ở việc sản xuất gia công. Trong khi đó, chuỗi giá trị hoàn chỉnh phải bao gồm “thiết kế – sản xuất – làm thương hiệu – phân phối”.
Các doanh nghiệp nội địa đang đau đầu với việc làm thế nào để cạnh tranh với hàng ngoại để tăng thị phần, đặc biệt trong dòng thời trang thông dụng (casual-wear), nơi phần lớn các thương hiệu thời trang mạnh của thế giới đang đổ bộ vào Việt Nam.
Tất nhiên, bài toán phát triển nhóm thời trang thông dụng không hề dễ dàng khi những nhà kinh doanh nội địa đang phải đối mặt với những thách thức lớn.
Một là, sự thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu khiến công nghiệp thời trang Việt Nam trở thành “xương gà chiên bơ” (rất thơm nhưng không xơi được!), như ông Kiệt, Hiệp hội Dệt may Thêu đan TP.HCM, từng nhận xét.
Hai là, lực lượng thiết kế trẻ còn rất mỏng về kinh nghiệm và hạn chế về số lượng.
Ba là, vòng đời các sản phẩm thời trang quá ngắn. Đây là thách thức cho sự sáng tạo và năng lực sản xuất của các nhà kinh doanh nội địa. Ông Nguyễn Hữu Phụng, Tổng Giám đốc Công ty Thời trang Việt, cho biết, các sản phẩm thời trang thay đổi liên tục và bản thân Công ty phải tung ra thị trường mỗi năm khoảng 400 mẫu thiết kế và 3-4 bộ sưu tập.
Và bốn chính là áp lực phải rút ngắn khoảng cách giá so với các thương hiệu nước ngoài mà chất lượng phải không thua kém, như ông Bùi Trọng Nguyên, Thư ký Hiệp hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM, nhận định. Việt Tiến, một công ty thuộc hàng đầu ngành dệt may Việt Nam vẫn đang phải chịu áp lực về điều này khi thương hiệu T-up của Công ty được đầu tư vốn đến 5 tỉ đồng với nhà thiết kế chính từ Pháp và giá cho mỗi sản phẩm lên đến hàng triệu đồng (giá của CK Jeans, Valentino cũng không cao hơn bao nhiêu) nhưng vẫn vắng bóng khách.