Trang 4 / 4
Ông Trí nêu ví dụ: Muốn đẩy mạnh sản xuất lốp Radial thì phải đầu tư lớn, trong khi năng lực các doanh nghiệp Việt Nam đều yếu, nên chỉ còn cách phải liên kết. Thế nhưng, các doanh nghiệp Việt Nam ai cũng muốn làm riêng, nên Casumina không còn cách nào khác là phải tự thân vận động và tìm các đối tác nước ngoài. Hoặc các doanh nghiệp cung cấp cao su nguyên liệu vẫn giữ cách làm rất “tùy hứng” là khi giá cao su thiên nhiên xuất khẩu rẻ thì họ bán cho doanh nghiệp, nhưng khi giá cao thì họ dành hết cho xuất khẩu chứ không chịu bán.
Ở tầm chiến lược quốc gia, thị trường Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho công nghiệp chế biến cao su phát triển. “Mặc dù có chiến lược phát triển hẳn hoi cho ngành công nghiệp ôtô, nhưng thực tế, hiện nay công nghiệp ôtô Việt Nam đang ở đâu? Trong khi đó, nếu nhìn sang Trung Quốc, họ không chỉ phát triển công nghiệp ôtô mà còn thực hiện tốt chiến lược “Radial hóa” với 80% lốp được sử dụng trong nước là lốp Radial chỉ trong thời gian chưa tới 10 năm và phần lớn được sản xuất trong nước.
Vẫn chuyện con gà - quả trứng
Hội Cao su - Nhựa TP.HCM là một hiệp hội lớn trong ngành, quy tụ gần 200 nhà sản xuất chế biến các sản phẩm từ cao su. NCĐT đã có cuộc trao đổi với Chủ tịch Hội, ông Nguyễn Quốc Anh, về những vấn đề xung quanh ngành công nghiệp chế biến cao su của Việt Nam.
Ngành công nghiệp chế biến cao su của Việt Nam ra đời cũng đã gần 60 năm, nhưng tại sao vẫn kém xa các nước trong khu vực như vậy?
Thứ nhất, mặc dù công nghiệp cao su Việt Nam cũng có tuổi đời gần 60 năm, nhưng sự phát triển ấy thường xuyên bị đứt quãng. Trước giải phóng, một số doanh nghiệp đã đầu tư vào ngành này nhưng chủ yếu là sản xuất lốp xe đạp. Đến năm 1989 công nghiệp chế biến cao su Việt Nam chỉ là một số 0 tròn trĩnh.
Thứ hai, công nghiệp chế biến cao su là ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành khác, chẳng hạn như ôtô hay điện tử. Thế nhưng, đây vẫn là câu chuyện “quả trứng - con gà” mà công nghiệp Việt Nam đang gặp phải. Muốn công nghiệp chế biến cao su phát triển thì những ngành công nghiệp chính (ôtô, điện tử) phải phát triển. Nhưng để các ngành này phát triển thì phải có ngành công nghiệp phụ trợ.
Vậy hướng phát triển sắp tới của Việt Nam là như thế nào?
Theo định hướng phát triển ngành cao su Việt Nam của Chính phủ, tỉ lệ chế biến sâu các sản phẩm cao su trong nước phải đạt 30% vào năm 2010 và đến năm 2020 là 40%.
Theo ông, tại sao ngành chế biến cao su Việt Nam không thu hút nhiều đầu tư nước ngoài bằng các ngành khác?
Như đã nói ở trên, công nghiệp chế biến cao su là ngành công nghiệp phụ trợ, nên muốn thu hút đầu tư thì các ngành công nghiệp khác phải phát triển. Mỗi năm Việt Nam chỉ tiêu thụ khoảng mấy chục ngàn chiếc ôtô, trong khi tại Trung Quốc mỗi năm họ bán gần 10 triệu chiếc. Nhiều nhà sản xuất ôtô vào Trung Quốc sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất lốp đi theo.
Dung lượng thị trường của Việt Nam cũng nhỏ, trong khi Việt Nam đã gia nhập ASEAN, mức thuế nhập khẩu rất thấp, nên thay vì đầu tư ở Việt Nam các nhà sản xuất sẽ xây nhà máy ở các nước ASEAN, sau đó xuất sang Việt Nam. Chẳng hạn, khi Việt Nam chưa gia nhập ASEAN, nhà sản xuất lốp xe của Nhật Yokohama đã liên kết với Casumina để sản xuất cho thị trường Việt Nam, nhưng khi Việt Nam vào ASEAN thì liên doanh này không phát triển thêm mà quay sang mở rộng nhà máy ở Philippines.
Lợi thế so sánh của Việt Nam so với các quốc gia khác là gì?
Tôi nghĩ lợi thế duy nhất của Việt Nam là xu hướng đầu tư “Trung Quốc + 1”, khi các nhà đầu tư muốn phân tán rủi ro. Song Việt Nam có hứng được cái “+ 1” này hay không lại là chuyện khác. So với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, nền chính trị của Việt Nam ổn định hơn, đây chính là lợi thế để thu hút các nhà đầu tư muốn làm ăn lâu dài. Tuy nhiên, Việt Nam phải thay đổi cơ chế thông thoáng, cải thiện thủ tục hành chính tốt hơn nữa.
Việt Nam có thể học hỏi mô hình phát triển công nghiệp chế biến cao su của nước nào?
Tôi nghĩ đó là Thái Lan và Malaysia. Hai quốc gia này có điều kiện tương đồng với Việt Nam là có nguồn cao su nguyên liệu dồi dào.
Từ thập niên trước Thái Lan đã đặt mục tiêu trở thành trung tâm lắp ráp ôtô của châu Á, với kế hoạch lắp ráp 1 triệu xe/năm. Với chiến lược này, họ đã thu hút nhiều hãng lốp xe lớn như Goodyear, Bridgestone và công ty trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ khác đầu tư vào.
Trong khi đó, Malaysia lại đi vào hướng phát triển chế biến găng tay và bao cao su. Trước khi virus HIV và bệnh AIDS xuất hiện, các sản phẩm này rất ít được sử dụng, nhưng từ khi bệnh này được phát hiện, nhu cầu sử dụng các sản phẩm nói trên cũng tăng cao. Malaysia đã đón được cơ hội này. Họ đầu tư riêng một viện nghiên cứu phát triển các sản phẩm từ Latex. Năm 2008, sản lượng cao su Latex của Malaysia đạt tới 423.482 tấn và họ phải nhập khẩu cao su nguyên liệu để phục vụ sản xuất. 