Hủy
Kiều bào

“Tôi chỉ như con kiến cần cù”

Thứ Hai | 10/08/2009 16:33

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thái tự nhận mình như con kiến cần cù tha từng mẩu kinh nghiệm về để phụ giúp khoa học trong nước từ năm 1994.

Năm 1997, Tiến sĩ (TS.) Nguyễn Đức Thái, Việt kiều Mỹ, được Chính phủ Mỹ cấp bằng phát minh cho kết quả nghiên cứu tìm được dị thể đầu tiên (được đặt tên TIGR, còn gọi là MYOC, GLCA1) cho bệnh tăng nhãn áp (glaucoma), nguyên nhân chính gây bệnh mù lòa. Cùng với hai nhóm nghiên cứu về tế bào học và di truyền học, TS. Thái đã nhận được giải thưởng Rudi Lewin 1998, giải thưởng cao nhất hằng năm của Mỹ về nghiên cứu nhãn khoa. Với thành tựu này, ông đã được đài truyền hình CNN và một số tờ báo như The New York Times, American Press, Science, Nature, The Japan Times đưa tin và phỏng vấn. Cho đến nay, phát minh TIGR và các nghiên cứu sau đó đã được nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu nhãn khoa các nước áp dụng trong chẩn đoán và trị liệu.

Tháng 7 vừa qua, TS. Thái được mời về nước tham gia tư vấn thành lập trung tâm nghiên cứu sinh học (Biotech) tại Khu Công nghệ cao TP.HCM. Nhân dịp này, ông đã chia sẻ rất cởi mở với NCĐT một số quan điểm trong nghiên cứu và phát triển khoa học tại Việt Nam.

Tại sao ông cho rằng trong nghiên cứu sản xuất vaccine, định hướng là quan trọng nhất?

TS. Nguyễn Đức Thái: Định hướng là nền tảng của mọi chương trình khoa học. Trong sản xuất vaccine, sự định hướng sẽ tránh được việc sản xuất chồng chéo với các nước khác. Hiện các nước trên thế giới đều nhảy vào sản xuất vaccine A/H1N1 theo phương pháp truyền thống, Việt Nam nên làm gì? Kinh nghiệm từ quá khứ cho thấy, vaccine Việt Nam luôn bị cạnh tranh rất mạnh bởi các nước. Vừa rồi, tôi có trao đổi với cựu Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang. Chị cho biết, chúng ta có kỹ thuật làm vaccine như các nước song lại bị cạnh tranh từ các nước Ấn Độ, Trung Quốc với giá rẻ hơn.

Việt Nam cần triển khai vaccine theo định hướng riêng, có tính đặc hiệu cho từng vùng, mùa và không nên quá lệ thuộc vào các virus được cung cấp bởi Tổ chức Y tế Thế giới WHO. Thứ nữa, phải nghiên cứu vaccine thế hệ mới. Tuy có một số đang trong vòng thử nghiệm nhưng dòng vaccine mới này hiện đã có những kết quả lâm sàn hiệu quả. Đây cũng là động lực giúp Việt Nam xây dựng chương trình công nghệ vaccine hiện đại nhằm tạo sản phẩm sinh học có tính ứng dụng cao trong ngăn ngừa các bệnh dịch thường xảy ra tại Việt Nam.

Nghiên cứu vaccine thế hệ mới có những ưu điểm gì so với nghiên cứu vaccine truyền thống?

TS. Nguyễn Đức Thái: Ưu điểm là tính cấp thời, chuyển biến và tối ưu. Trong những thập niên vừa qua, quan điểm trong chế tạo và sản xuất vaccine đã thay đổi nhiều theo diễn tiến các bệnh dịch từ AIDS, SARS, H5N1, Eboni, Mad-cow (bệnh bò điên) và nay là A/H1N1. Đặc biệt về dịch cúm, các vaccine phải có tính cấp thời bởi bệnh có thể xảy ra quanh năm.

Việc chúng ta cần tiến hành là thiết lập kỹ thuật làm vaccine thế hệ mới và ứng dụng tốt. Ngoài ra, cần có sự tham gia của doanh nghiệp có tư duy khoa học đủ rộng để chấp nhận thử thách đầu tư và áp dụng những cái mới đó vào ngành y tế Việt Nam. Thực tế, Việt Nam có nhiều lợi thế để sản xuất vaccine thế hệ mới bởi môi trường, bệnh lý và khả năng ứng dụng cao.

Trong những lần về nước làm việc, theo ông, cái khó mà giới khoa học trong nước đang gặp phải là gì? Biện pháp nào để khắc phục những khó khăn này?

TS. Nguyễn Đức Thái: Khó khăn luôn hiện hữu trong các công trình nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Thực tế, ở Việt Nam hiện có nhiều nghiên cứu có tính ứng dụng cao đáng trân trọng như nghiên cứu tế bào gốc của GS. Phạm Xuân Ngọc, sản phẩm Biosimilars đạt chuẩn trị liệu FDA của TS. Hồ Nhơn, nghiên cứu chip của TS. Nguyễn Chánh Khê và Phạm Hùng Văn, công nghệ nhân bản của chị Cao Thị Bảo Vân, sản xuất cytokines của TS. Nguyễn Quốc Bình, virus gây nhiễm ở tôm của TS. Văn Thị Hạnh...

Điều chúng ta quan tâm là việc tránh nghiên cứu chồng chéo và trùng lập. Việt Nam cần triển khai những phương pháp hữu hiệu hơn, có tính ứng dụng rộng và chính xác trong chẩn đoán và trị liệu các bệnh do di truyền của gene hay môi trường. Tôi được biết một số cơ quan đã đặt mua thiết bị nhưng chưa dùng hết hiệu năng. Lý do là chưa quen cách tổ chức theo thứ tự: thiết kế chương trình, nhân sự và cuối cùng mới trang thiết bị. Chương trình nghiên cứu này không thể kiếm qua lý thuyết sách vở hay internet mà phải qua nghiên cứu và tiếp cận với những nghiên cứu mới luôn thay đổi liên tục trong cộng đồng khoa học thế giới. Và những việc tôi làm trước đây chỉ như con kiến tha từng mẩu kinh nghiệm về để phụ giúp cho khoa học trong nước.

Vậy “con kiến” nay còn tiếp tục công việc “tha mồi” không?

TS. Nguyễn Đức Thái: (cười) Con kiến này tha từ năm 1994 đến khoảng năm 2002 là thay đổi phương pháp hợp tác bởi khoa học trong nước từ năm đó bắt đầu có những nghiên cứu thành công, có tính ứng dụng tốt. Tôi chỉ là một gạch nối giúp đưa về một số ý tưởng để từ đó các đồng nghiệp trong nước chọn lựa và bắt tay thực hiện.

Theo ông, phát triển khoa học trong lĩnh vực y tế, chúng ta nên tham khảo mô hình của nước nào?

TS. Nguyễn Đức Thái: Nên tham khảo mô hình của Cuba. Trước hết phải xây dựng những khu chẩn đoán, trị liệu ứng dụng tối đa công nghệ sinh học để phục vụ gần 100 triệu dân trong nước trước, chưa nên nghĩ đến việc xuất khẩu bởi có thể gặp phải sự cạnh tranh mà ta chưa sẵn sàng để đáp ứng lại. Cuba có tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong thấp nhất thế giới nhờ những vaccine đặc hiệu tự chế. Một nước điển hình khác là Trung Quốc, cuối thập niên 1990, nhằm tránh cạnh tranh bộ gene người của Mỹ, Anh, Pháp và Nhật, họ tập trung nghiên cứu và trở thành quốc gia đầu tiên công bố nghiên cứu thành công bộ gene của lúa. Nhật Bản cũng đáng để học tập. Hằng năm, họ vẫn dùng 30% ngân sách giáo dục để đào tạo và mời nhân tài nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu.

Ông có ý định mở phòng thí nghiệm hoặc làm điều gì đó gắn bó ở Việt Nam không?

TS. Nguyễn Đức Thái: Chúng tôi mong muốn hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp trong nước mà không có ý định mở phòng thí nghiệm tại Việt Nam. Tôi rất quan tâm nghiên cứu với hãng SBI Biotech ở Nhật Bản chuyên về kháng thể đơn dòng và DC. Đây là hướng nghiên cứu đầu ngành của công nghệ sinh học hiện đại và tôi tin, có thể ứng dụng thiết thực cho chương trình Biotech ở Việt Nam. Trong năm nay, tôi về nước 2 lần để làm việc với Khu Công nghệ cao TP.HCM và thảo luận hợp tác với một vài trung tâm khoa học khác. Nếu mọi sự hanh thông, đóng góp và làm việc tại quê nhà cũng là dự định và chọn lựa của tôi. Còn nếu chưa có cơ duyên, tôi vẫn tham gia tư vấn hỗ trợ từ xa, bởi đó luôn là niềm vui và phần thưởng tinh thần từ quê hương.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thái

1990-2004: Tốt nghiệp chuyên khoa Cao học Dược rồi làm tiến sĩ tại Đại học California, San Francisco (UCSF) và trở thành trưởng khoa chuyên khảo cứu bệnh tăng nhãn áp tại bộ môn nhãn khoa của UCSF. Ông cũng là cố vấn khoa học của một số hãng dược phẩm Mỹ.

2005-nay: Làm việc tại Hãng SBI Biotech (Tokyo, Nhật Bản).

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật