Hủy
Tạp chí số 893

Thao trường EPR

Trần Đăng Thứ Sáu | 31/07/2026 07:30

 
 
Mô hình tuần hoàn bao bì đã trở thành bài kiểm tra bắt buộc về năng lực sinh tồn và phát triển bền vững.

Dưới tác động mạnh mẽ của công cụ pháp lý Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), kinh tế tuần hoàn đối với ngành bao bì tại Việt Nam đang dịch chuyển nhanh sang một chương mới: kỷ luật thực thi bắt buộc và tối ưu hóa chi phí. 

Chương mới của bao bì tái chế

Theo số liệu của Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam), tính đến hết năm 2025, liên minh đã thu gom và tái chế gần 115.000 tấn bao bì các loại. Riêng trong năm 2026, tính đến cuối tháng 5, khối lượng bao bì được thu gom và tái chế đã vượt 30.000 tấn, quy mô thực hiện cả năm dự kiến tăng khoảng 90% so với năm trước.

Mảnh ghép của PRO Việt Nam cho thấy sự tăng trưởng của ngành bao bì luôn kéo theo hệ lụy là rác thải. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa và bao bì. Ông Joseph Ross Jocson, Chủ tịch Liên đoàn Bao bì châu Á, cho rằng ngành bao bì không còn chỉ dừng ở vai trò bảo vệ sản phẩm hay hỗ trợ phân phối, mà đang trở thành lĩnh vực hội tụ giữa công nghệ, trách nhiệm môi trường và kỳ vọng ngày càng cao của người tiêu dùng.

Đối với các giám đốc tài chính và giám đốc chuỗi cung ứng tại Việt Nam, EPR không còn là một khái niệm trừu tượng. Việc luật hóa nghĩa vụ tài chính hoặc tự tổ chức thu gom, tái chế bắt buộc đối với bao bì đưa ra thị trường đang trực tiếp định hình lại biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo PRO Việt Nam tại TP.HCM, quy mô thực hiện toàn diện của hệ thống trong năm 2026 dự kiến tăng trưởng khoảng 90% so với năm 2025. Sự gia tăng đột biến về khối lượng này buộc các doanh nghiệp phải từ bỏ các mô hình thu gom nhỏ lẻ mang tính phong trào để xây dựng những hệ thống có tính kỷ luật công nghiệp cao. 

“EPR không còn là một khái niệm đang được bàn thảo trên giấy tờ. EPR đã bước vào giai đoạn thực thi bắt buộc theo luật định”, ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch PRO Việt Nam, cho biết.  Thực tế cho thấy, việc thay đổi tư duy này mang lại những tác động có thể đo lường được. Theo Lagom Việt Nam, cứ khoảng 1.000 tấn vỏ hộp sữa được tái chế sẽ giúp giảm phát thải khoảng 7.500 tấn CO₂e so với phương án xử lý truyền thống chôn lấp. Đáng chú ý, cách tiếp cận EPR, nhập khẩu toàn diện đòi hỏi phải kiểm soát ngay từ khâu thiết kế. 

Rào cản xuất khẩu và áp lực nội địa
Điển hình, Vinamilk đã tiên phong triển khai giải pháp “nắp có tai” thay thế loại nắp trơn kèm ống hút nhựa, giúp tiết giảm hơn 4,5 triệu ống hút, tương đương 1,7 tấn nhựa. Còn theo ông Vaibhav Bhanchawat, Tổng Giám đốc Mondelez Kinh Đô Việt Nam, 100% sản phẩm của Mondelez Kinh Đô đã có khả năng tái chế. Ngay từ khâu thiết kế, doanh nghiệp áp dụng tư duy tối ưu vật liệu nhằm giảm lượng nhựa sử dụng, tối ưu vật liệu rPET, cắt giảm khay nhựa và chuyển dần sang vật liệu giấy.

Bài toán tuần hoàn không chỉ dừng lại ở sân chơi nội địa mà còn là tấm vé thông hành trên thị trường quốc tế. Theo quy định mới của EU, tất cả bao bì lưu thông tại thị trường này bắt buộc phải được thiết kế theo hướng có thể tái chế. Đáng chú ý hơn, đến năm 2030, ngay cả bao bì nhựa tiếp xúc với thực phẩm phải chứa tỷ lệ nhựa tái chế tối thiểu 30%. 

Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Thực phẩm Sao Ta, thừa nhận việc này sẽ làm phát sinh thêm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, việc làm quen với thiết kế sinh thái và chuẩn hóa dữ liệu phát thải không chỉ để đối phó với EPR trong nước, mà còn là bước đệm bắt buộc để vượt qua các hàng rào tiêu chuẩn xanh ngày càng gắt gao từ thị trường Mỹ và EU.

Ở lĩnh vực dệt may, ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty May Sài Gòn 3, cho biết, tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật bao bì tái chế không phải là chuyện khó, vấn đề vẫn nằm ở nhu cầu thị trường phản ánh qua sức mua và giá cả. Các doanh nghiệp nội địa lớn hay các tập đoàn quốc tế sở hữu những dây chuyền tái chế cơ học và hóa học hiện đại hàng đầu khu vực, có khả năng biến rác thải nhựa, vỏ hộp giấy thành hạt nhựa tái sinh (PCR) chất lượng cao. 

Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở hạ tầng logistics thu gom phân tán và tính minh bạch của chuỗi cung ứng ngược. Hiện nay, hơn 60% dòng chảy phế liệu tại Việt Nam vẫn phụ thuộc vào lực lượng thu gom dân lập phi chính thức. Hệ thống này hoạt động hoàn toàn dựa trên giao dịch tiền mặt, không hóa đơn chứng từ, không có khả năng truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào. 

”Trọng tâm của liên minh trong giai đoạn này không chỉ đơn thuần là gia tăng thêm bao nhiêu tấn vật liệu thô được gom về, mà là xây dựng một hệ thống vận hành hoàn toàn minh bạch, hiệu quả kinh tế và có khả năng mở rộng. Chuyển đổi số sẽ là nền tảng cốt lõi để số hóa dữ liệu, truy xuất nguồn gốc từ gốc rác”, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, Phó Chủ tịch PRO Việt Nam, cho biết. 

Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, nhận định rằng thu gom và tái chế toàn bộ bao bì đưa ra thị trường không đơn thuần là mục tiêu môi trường mà còn là bài toán phát triển quốc gia. Để giải quyết bài toán này không thể chỉ gia tăng năng lực thu gom hay tái chế mà cần thiết kế lại toàn bộ chuỗi giá trị, từ vật liệu, thiết kế bao bì, tiêu chuẩn sản xuất, công nghệ phân loại, công nghệ tái chế cho đến sự tham gia của người tiêu dùng. “Không một bên nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ chuỗi giá trị này”, bà Mai nói.
 


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới