Hủy
Nhân vật

Đón đầu cơ hội thời hậu khủng hoảng

Thứ Năm | 27/08/2009 11:46

Với sự tham gia của các diễn giả hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế như ông Trương Đình Tuyển, bà Phạm Chi Lan, ông Vũ Thành Tự Anh và những nhà điều hành có tiếng trong các lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, mua bán - sáp nhập như Trịnh Hoài Giang, Nguyễn Nam Sơn, David Đỗ và Peter Ryder, Hội nghị Đầu tư 2009 do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức ngày 23.7.2009 vừa qua đã đi tìm và thấy được những giải pháp cơ bản cho doanh nghiệp Việt Nam thời hậu khủng hoảng, dù “vùng sáng” kinh tế chỉ vừa mới ló dạng.

 Kinh tế Việt Nam: Ý nghĩa của những con số


Ông Vũ Thành Tự Anh
Đưa ra hàng loạt con số âm (sụt giảm) trong 6 tháng đầu năm 2009 ở nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như sản xuất, xuất - nhập khẩu (so với cùng kỳ năm trước), song ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Việt Nam, người mở đầu Hội nghị, cho rằng, con số âm đáng chú ý nhất chính là con số âm của tiêu dùng và đầu tư.

Theo ông, hai con số này đáng chú ý vì hai lẽ.

Thứ nhất là tính nhất quán của chúng. Chẳng hạn, mức sụt giảm tiêu dùng chính thức được công bố là 3,5%, nhưng theo tính toán của một chuyên gia ở Tổng Cục Thống kê, tỉ lệ này phải lên đến 10%. Song, ông Tự Anh cho biết, hiện ông chưa có đầy đủ cơ sở để kiểm chứng con số 10%, nên theo quan điểm thận trọng hơn, ông vẫn sử dụng con số 3,5% cho những tính toán của mình.

Con số âm thứ hai mà ông Tự Anh đưa ra là tốc độ tăng vốn đầu tư trong 6 tháng đầu năm 2009, theo tính toán của ông, là -14%. Trong khi đó, tỉ lệ này theo công bố của Tổng Cục Thống kê là tăng 18%, mặc dù cả hai đều được tính toán dựa trên những dữ liệu do Tổng Cục Thống kê cung cấp. “Trong con số 18% có một con số mà tôi hết sức quan tâm nhưng không có khẳng định nào từ phía Tổng Cục Thống kê là đầu tư tư nhân của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm tăng trên 30%”, ông nói, “trong khi số lượng và vốn đăng ký của doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM và Hà Nội đều giảm, tôi không hiểu con số 30% này được tính như thế nào”.

Tuy nhiên, điều đáng nói nhất về hai con số này là chúng đại diện cho hai lĩnh vực vốn là đích ngắm của gói kích cầu, đó là đầu tư và tiêu dùng. Và bất chấp gói kích cầu 8 tỉ USD đã được tung ra, cả đầu tư lẫn tiêu dùng đều sụt giảm.

Bỏ qua những con số âm, ông Tự Anh dành sự quan tâm đối với một con số dương là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 6 tháng đầu năm, đạt 3,9%. Tuy nhiên, vẫn với quan điểm thận trọng, ông nhận định: “Chúng ta vẫn thường tự hào Việt Nam là 1 trong 13 nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế dương, nhưng nếu so sánh với tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam là 9-10%/năm, có thể nói tác động của khủng hoảng kinh tế đã làm cho GDP của chúng ta giảm 5-6%, tức là giảm tương tự như các nước chịu tác động mạnh nhất của khủng hoảng kinh tế”.


Ông Trương Đình Tuyển
Đồng quan điểm với ông Tự Anh, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, cho rằng, Việt Nam chịu tác động không nhỏ bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đối với câu hỏi lớn nhất là khi nào Việt Nam thoát ra khỏi khủng hoảng, có ý kiến cho rằng Việt Nam và Trung Quốc có thể sẽ là 2 nước thoát ra khỏi khủng hoảng sớm nhất. Tuy nhiên, ông cho rằng, nếu xử lý tốt gói kích cầu thì Việt Nam mới có thể thoát ra khỏi khủng hoảng sớm, nhưng vẫn không thể sớm hơn Trung Quốc. Nguyên nhân là Trung Quốc có thị trường nội địa lớn, họ cũng có gói kích cầu và gói kích cầu của họ đi đúng hướng, tức kích cầu hàng nội địa. Còn Việt Nam, nếu không xử lý tốt gói kích cầu thì dường như chúng ta đang kích cầu cho hàng ngoại, đặc biệt là hàng… Trung Quốc.

Chuyên gia về lĩnh vực thương mại này cũng mang đến Hội nghị những nhận định sắc bén về thị trường xuất khẩu trong thời gian tới. Ông Tuyển cho rằng, muốn đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 3% (theo Nghị quyết của Quốc hội) thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng cuối năm sẽ phải đạt 36,4 tỉ USD, bình quân mỗi tháng phải đạt trên 6 tỉ USD, cao hơn mức bình quân của 6 tháng đầu năm là 1,4 tỉ USD/tháng. Đây là điều rất khó. Vì tỉ trọng thị trường vẫn không thay đổi, lần lượt là Mỹ, ASEAN, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản, trong khi Mỹ và Nhật thì đang “vật vã” để thoát ra khỏi khủng hoảng, còn EU được dự báo sẽ là khu vực thoát ra khỏi khủng hoảng muộn nhất. Vì thế, ông nhấn mạnh, cần đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường châu Phi, Trung Đông, Mỹ Latinh là những thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh trong mấy năm gần đây. Đây cũng là những thị trường có yêu cầu chất lượng hàng hóa phù hợp với khả năng sản xuất của Việt Nam (tuy thị phần còn nhỏ). Ông Tuyển đặc biệt nhấn mạnh đến thị trường Trung Quốc, nơi mà kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ giảm 1,7% trong 5 tháng đầu năm (giảm mạnh nhất là thị trường Nhật, với 37,4%). Và tại Trung Quốc, ông dành nhiều sự quan tâm đối với mặt hàng cà phê và thủy sản. Ông nói: “Một quốc gia với 1,3 tỉ dân đang chuyển từ thói quen uống trà sang uống cà phê sẽ là cơ hội lớn cho xuất khẩu Việt Nam”.

Ông cũng lưu ý một điểm đặc biệt là thị trường Nhật Bản, dù xét về tổng thể có mức sụt giảm mạnh nhất, nhưng riêng mặt hàng dệt may lại tăng 20%, điều chưa từng có trong những năm trước đây. Đó là nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện ASEAN - Nhật Bản được ký kết cách đây 1 năm. Ngoài ra, Việt Nam và Nhật cũng vừa phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản. Nếu Hiệp định này có hiệu lực trong năm nay thì xuất khẩu vào thị trường Nhật trong quý IV sẽ tăng trở lại và những mặt hàng được hưởng lợi nhiều nhất là dệt may, thủy sản, một số mặt hàng công nghiệp gia công như dây cáp, sản phẩm nhựa và thậm chí là hàng điện tử, vì mức thuế của Nhật giảm nhanh và mạnh hơn nhiều so với Việt Nam.


Bà Phạm Chi Lan
Trong khi đó, với góc nhìn dài hạn hơn, bà Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) cho rằng, vấn đề cốt tử đối với kinh tế Việt Nam sau khi ra khỏi khủng hoảng là cải thiện năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp tư nhân. Theo bà, khi khủng hoảng xảy ra, chính khối doanh nghiệp tư nhân trong nước đã cứu nguy cho nền kinh tế, chứ không phải doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp nhà nước trong khi hai khối này được hưởng nhiều ưu đãi hơn. Bà Lan dẫn chứng: “Hơn 90% việc làm là do khối doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa tạo ra. Nếu nhìn lại những thời kỳ khủng hoảng trước đây như vào cuối thập niên 1980, 1990 thì vai trò của khối tư nhân rất quan trọng”.

Dù nguồn vốn FDI được đánh giá là có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế, song theo ý kiến của một số chuyên gia, đừng quá kỳ vọng vào dòng vốn này. Bà Phạm Chi Lan cho biết, một khảo sát của Sở Khoa học Công nghệ TP.HCM vào tháng 3.2009 cho thấy, trình độ công nghệ bình quân của các nhà đầu tư nước ngoài chỉ ở mức trung bình, thậm chí một số doanh nghiệp còn thấp hơn doanh nghiệp Việt Nam cùng ngành nghề. Trên thực tế, vài năm gần đây, có những hiện tượng không tốt ở một số doanh nghiệp FDI như thổi phồng số vốn đăng ký để được cấp đất nhiều hơn, lạm dụng tài nguyên, liên kết tạo vị thế chi phối thị trường, gây bất lợi cho Việt Nam, vi phạm luật pháp về lao động, môi trường, không thực hiện các cam kết đầu tư, thiếu minh bạch trong kinh doanh… Bà cũng nêu ra con số được Chi Cục Thuế TP.HCM cung cấp: 6 tháng đầu năm 2009, 67% doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM báo cáo lỗ, thậm chí có doanh nghiệp lỗ liên tiếp 10 năm. “Ở đây có lẽ phải có một kỹ thuật chuyển lãi ra bên ngoài và để lỗ ở Việt Nam rất tốt, chứ một doanh nghiệp mà thực sự lỗ liên tiếp 10 năm thì chỉ có nước… dẹp tiệm”, bà nhận định.

Vì thế, bà cho rằng, sau giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào FDI, xuất khẩu, vốn ODA, thoát ngưỡng nghèo (từ giữa năm 1990 đến nay) thì kể từ nay, Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình, bước vào thời kỳ phát triển mới, phải dựa chủ yếu vào nội lực, cụ thể là nội lực của khu vực tư nhân.

Với sự tham gia của các diễn giả hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế như ông Trương Đình Tuyển, bà Phạm Chi Lan, ông Vũ Thành Tự Anh và những nhà điều hành có tiếng trong các lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, mua bán - sáp nhập như Trịnh Hoài Giang, Nguyễn Nam Sơn, David Đỗ và Peter Ryder, Hội nghị Đầu tư 2009 do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức ngày 23.7.2009 vừa qua đã đi tìm và thấy được những giải pháp cơ bản cho doanh nghiệp Việt Nam thời hậu khủng hoảng, dù “vùng sáng” kinh tế chỉ vừa mới ló dạng.

 

 Đầu tư vào đâu 6 tháng cuối năm?

Đi tắt bằng M&A

Trong khi nhắc đến việc phát huy nội lực của doanh nghiệp tư nhân, bà Phạm Chi Lan cho rằng, tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, đầu đàn, là phần việc quan trọng của kinh tế Việt Nam sắp tới. Đó cũng là luận điểm được ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Điều hành Vietnam Capital Partners, đơn vị chuyên tư vấn và đầu tư trong lĩnh vực mua bán - sáp nhập (M&A), phân tích trong phần trình bày về giải pháp cho bài toán vốn, bài toán cơ bản khi muốn phát triển doanh nghiệp; trong đó, M&A được ông nhấn mạnh như một giải pháp quan trọng để tiếp cận thị trường vốn quốc tế.


Ông Nguyễn Nam Sơn
Để minh chứng cho điều này, ông đưa ra ví dụ trong ngành công nghiệp bán dẫn thế giới. Năm 1998, có 3 công ty dẫn đầu ngành công nghiệp này, chiếm khoảng 40% tổng thị phần của thị trường toàn cầu thì đến quý I/2009, tỉ lệ thị phần đã tăng lên đến 70%. Đây là kết quả của công cuộc mua bán, sáp nhập. Theo đó, nếu năm 1998, có 10 công ty lớn nhất trong lĩnh vực này thì đến năm 2009 chỉ còn lại 3 công ty còn tồn tại, 7 công ty còn lại hoặc là bị phá sản hoặc là bị sáp nhập.

Tại sao có xu hướng này? Theo ông Sơn, có 4 nguyên nhân. Đó là cùng với quá trình toàn cầu hóa, các rào cản thương mại dần được dỡ bỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán vốn giữa các doanh nghiệp. Thứ hai là nhu cầu vốn tăng cao, chẳng hạn trước kia để đầu tư một nhà máy bán dẫn chỉ cần 1 tỉ USD thì đến giai đoạn này phải cần đến 3 tỉ USD. Lớn mạnh để tận dụng lợi ích kinh tế nhờ quy mô lớn (economies of scale) là nguyên nhân thứ ba thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện M&A và cuối cùng là sự hạn chế về nguồn vốn (khi vốn ngân hàng và các quỹ đầu tư dường như không còn đáp ứng đủ nhu cầu vốn của doanh nghiệp nữa).

Ông Sơn lấy Gome, một công ty bán lẻ hàng đầu Trung Quốc, làm ví dụ. Trong khoảng thời gian từ 2003 đến năm 2008, doanh số của công ty này tăng từ 1,2 tỉ USD lên 6,6 tỉ USD. Nguyên nhân là Gome được niêm yết trên thị trường Hồng Kông và đã được các nhà đầu tư lớn nước ngoài đầu tư vào. Trong khoảng thời gian đó, Gome đã tham gia vào 5 vụ M&A và điều này đã giúp Gome trở thành công ty bán lẻ hàng đầu tại Trung Quốc.

Kết quả sau M&A của Gome rất khả quan. Số lượng cửa hàng bán lẻ của công ty này đã tăng từ 79 trong năm 2003 lên 859 cửa hàng, thị phần tăng từ dưới 5% lên hơn 12% và mức lãi gộp tăng từ 7,3% lên gần 17%.

Từ đây, ông Sơn trình bày: “Tôi nghĩ rằng, các động lực thúc đẩy M&A tại Trung Quốc hay bất kỳ nước nào trên thế giới cũng sẽ ảnh hưởng đến M&A tại Việt Nam”. Ông Sơn dự báo, trong 5-10 năm tới, các công ty hàng đầu Việt Nam sẽ bắt đầu ra bên ngoài thế giới và cạnh tranh trong khu vực. Khi đó, rủi ro thiếu vốn do hệ thống ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu vốn tăng mạnh sẽ buộc các doanh nghiệp Việt Nam, như ông Sơn chia sẻ, phải chuyển đổi mô hình quản lý, từ công ty gia đình sang cổ phần và kêu gọi vốn. Ông nói: “Nếu chúng ta không huy động được trong nước, chúng ta tìm nguồn vốn ở bên ngoài. Nếu không tìm nguồn vốn thì doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được. Trong những năm khó khăn, Trung Quốc chủ yếu huy động nguồn vốn từ bên ngoài đến 100 tỉ USD trong khi nguồn vốn trong nước chỉ khoảng 40 tỉ USD”.

Phân tích những số liệu của các thị trường chứng khoán trên thế giới trong 60-80 năm qua, ông Sơn cho rằng, thị trường chứng khoán vận động có tính chu kỳ. Mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 6-7 năm, với 2 năm đầu tăng trưởng tốt, sau đó là 4 năm tăng trưởng kém. Và thị trường chứng khoán Việt Nam, theo ông Sơn, đã trải qua 2 năm tăng trưởng kém. Như vậy, trước mắt sẽ vẫn còn 2 năm khó khăn nữa mà các doanh nghiệp Việt Nam phải trải qua. Đưa ra điều này là để thấy rằng trong ít nhất 2 năm tới doanh nghiệp sẽ khó có thể dựa vào thị trường chứng khoán trong nước làm kênh huy động vốn và tìm vốn thông qua M&A sẽ là lựa chọn cần thiết.

VN-Index cuối năm 2009 sẽ xấp xỉ 500 điểm

Một chủ điểm được khá nhiều nhà đầu tư tham dự quan tâm là lĩnh vực chứng khoán. Nếu câu chuyện chứng khoán tăng, giảm vừa qua làm các nhà đầu tư phập phồng thì qua nhận định của ông Trịnh Hoài Giang, Phó Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), diễn giả trong phần “Dự báo dòng vốn và thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009” của Hội nghị, câu chuyện này sẽ thế nào?


Ông Trịnh Hoài Giang
Sáu tháng đầu năm 2009, thị trường chứng khoán đã có bước tăng trưởng ấn tượng. VN-Index tăng gần 100% chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng (từ tháng 4 đến tháng 6). Khối lượng giao dịch liên tục lập kỷ lục, nhiều phiên vượt mức 5.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán không khác gì cỗ xe leo núi. Khi leo lên đỉnh dốc, cỗ xe ấy nhận ra dường như mình đã đi quá nhanh nên cần phanh lại. Kết quả là không chỉ chỉ số chứng khoán sụt giảm (VN-Index mất hơn 15% chỉ trong 5 tuần) mà thanh khoản cũng yếu dần. Giá trị giao dịch trên thị trường hiện chỉ còn xấp xỉ 1.000 tỉ đồng. Điều đáng nói là ngay ở những phiên tăng điểm, lượng đặt mua cũng không thực sự mạnh. VN-Index tạm thời “đi ngang” như nhận định của đa số chuyên gia.

Xu hướng đi ngang này sẽ kéo dài bao lâu? Theo ông Giang thì 6 tháng cuối năm 2009 là giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi vào ổn định. Tuy nhiên, nhà đầu tư không nên kỳ vọng vào một sự tăng mạnh trở lại.

Trước mắt, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng từ hoạt động tài khóa và chính sách tiền tệ. Sáu tháng đầu năm 2009, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) gần như không thay đổi so với năm 2008. Nếu như 3 tháng đầu năm dòng vốn FII chảy ra khỏi thị trường chứng khoán khoảng 700 triệu USD (trên quy mô vốn 8 tỉ USD, chủ yếu từ đầu tư trái phiếu) thì 3 tháng trở lại đây đã có thêm 120 triệu USD được chuyển ngược vào Việt Nam. Dự báo, dòng vốn FII sẽ khó tăng do nhà đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư thận trọng, hướng đầu tư vào thị trường Mỹ và các nước đã phát triển. Họ chưa chủ trương phân bổ thêm vốn cho các thị trường mới nổi. Đặc biệt, Việt Nam có độ ưu tiên thấp hơn so với thị trường châu Á và khu vực bởi nhà đầu tư nước ngoài không yên tâm về nguy cơ lạm phát, rủi ro tỉ giá và đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài vẫn cho rằng cổ phiếu Việt Nam đang đắt hơn các thị trường nói trên, với hệ số P/E là 17,7.

Đối với dòng vốn trong nước, ông Giang cho rằng thị trường cũng sẽ không đón nhận thêm nhiều dòng vốn mới từ khối công ty nhà nước. Nguyên nhân là các doanh nghiệp nhà nước đang chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ đối với việc đầu tư trái ngành.

Vì thế, nhà đầu tư trong nước sẽ tiếp tục là lực lượng dẫn dắt thị trường. Thời gian qua, hoạt động của khối này chiếm hơn 80% giá trị giao dịch mỗi ngày. Tuy nhiên, ông Giang cũng lưu ý, cứ 100 nhà đầu tư cá nhân đến giao dịch tại HSC thì đến 80 người có liên quan đến thế chấp, vay vốn đầu tư. Vì vậy, cùng với xu hướng siết lại tín dụng hiện nay, khối này sẽ phải bán chứng khoán để giải quyết nợ. Họ cũng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc nhờ đến vốn tài trợ để đầu tư. Mặt khác, khi thị trường bất động sản và vàng hấp dẫn trở lại, lãi suất tiền gửi đã tăng (xấp xỉ 10%) thì dòng tiền không còn tập trung vào chứng khoán nữa, thị trường chứng khoán vì thế khó tăng mạnh.

Với nguồn vốn bị hạn chế từ hai phía, ông Giang đưa ra dự báo rằng thị trường chứng khoán từ đây đến cuối năm cũng không còn nhiều lực đẩy, song cũng khó giảm sâu. Vì các nhà đầu tư tổ chức, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài và các công ty chứng khoán, do đã bỏ lỡ một phần cơ hội mua vào trong đợt tăng giá quý II vừa qua, sẽ sẵn sàng mua vào khi VN-Index ở mức 350. Vì thế, dù đã “rào đón” ngay từ đầu là không dám chắc trong việc đưa ra dự báo về VN-Index, nhưng ông Giang cũng “rất hồi hộp đưa ra dự báo VN-Index cuối năm vào khoảng 480-520 điểm, HNX-Index sẽ là 160-180 điểm và nhiều khả năng là sẽ ở cận thấp của 2 dải này”.

 

 Không đổ vốn vào thị trường văn phòng

Bất động sản cũng là kênh đầu tư có mối liên thông trực tiếp với thị trường chứng khoán nên cùng với sự gia tăng của chỉ số VN-Index trong quý II/2009, nhà ở đã trở thành một trong ba khu vực có mức tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự phục hồi nào cũng mang một thông điệp lạc quan chắc chắn. Trong khi các nhà đầu tư trong nước đang tìm kiếm những phân khúc và sản phẩm có mức giá hợp lý hơn để đáp ứng nhu cầu thực thì các nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa có những bước đi mạnh dạn như cách đây 2 năm.

Ông Peter Ryder
Nhưng với cái nhìn lạc quan hơn, trong phần trình bày tại Hội nghị, ông Peter Ryder, Tổng Giám đốc Indochina Capital, cho rằng, Việt Nam vẫn nằm trong “tầm ngắm” của các nhà đầu tư nước ngoài trong thời kỳ hậu khủng hoảng. Vì sao?

Theo quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam dự kiến đạt 3,3% vào năm 2009 và 4,5% vào năm 2010, cao nhất khu vực Đông Nam Á, trong khi Singapore có mức tăng trưởng âm, còn Thái Lan, Malaysia thì tăng trưởng chậm. Ngoài sự phát triển tương đối ổn định của nền kinh tế, sức cầu (chủ yếu ở hạng mục nhà ở) cũng là một yếu tố đòn bẩy khiến thị trường bất động sản Việt Nam trở nên tiềm năng trong mắt các nhà đầu tư.

Ông Peter Ryder dẫn chứng, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam trong những năm gần đây tăng mạnh và thu nhập bình quân đầu người đã đạt 1.000 USD/năm. Ước tính, 30% dân số Việt Nam (tương đương 27 triệu người) hiện đang sống tại các đô thị. Nếu 5% số đó có đủ điều kiện sở hữu căn hộ thì thị trường bất động sản sẽ đón nhận một lượng cầu là 1.350.000 căn hộ. Tuy nhiên, nguồn cung hiện chỉ đáp ứng được 1/10. Thêm vào đó, chính sách của Việt Nam gần đây cho phép Việt kiều sở hữu nhiều nhà, tuy chưa thể tác động mạnh mẽ làm thay đổi thị trường nhưng cũng là động lực có tính kích thích các nhà đầu tư.

Lạc quan là thế, nhưng ông Peter Ryder lại e dè khi nói đến một hạng mục đầu tư khác của lĩnh vực bất động sản là cao ốc văn phòng. Ông cho rằng, đây là mảng đang giảm sút mạnh nhất và nguồn cung trên thị trường hiện rất lớn, do đó, không nên “đổ” tiếp vốn vào đây.

Về vấn đề này, trước đó không lâu, Công ty Tư vấn và Tiếp thị Bất động sản CBRE cũng đưa ra một tổng kết khá bi đát rằng hiện diện tích cho thuê văn phòng chỉ đạt 3.744 m2, trong khi tổng diện tích sàn của các cao ốc tính đến quý II/2009 đã tăng thêm 34.426 m2. Cùng nhận định, trong phân tích về “Thị trường cao ốc văn phòng toàn cầu 2009”, Công ty Tư vấn Bất động sản Jones Lang LaSalle cho biết, mức thuê hiện tại của thị trường châu Á - Thái Bình Dương tăng 4%, thấp hơn nhiều so với con số 27% của năm 2007 và nguyên nhân chính vẫn là nguồn cung đang bị thừa.

Bên cạnh những tiềm năng có thể nhìn thấy, nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về sự bền vững trong tăng trưởng của khu vực bất động sản. Ông Vũ Thành Tự Anh cho rằng, thị trường thời gian qua nóng lên, đặc biệt ở lĩnh vực xây dựng và nhà ở, là do sự trở lại của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, liệu tình trạng này có thể còn được duy trì không khi gói kích cầu của Chính phủ sắp bước vào giai đoạn kết thúc (chỉ còn 20%)? Khi đó, ông nói, thị trường sẽ giảm nhiệt và bất động sản có thể tiếp tục giảm giá.

Đây cũng là cảm nhận của hầu hết các doanh nghiệp địa ốc sau khi đã “thấm đòn” khủng hoảng kinh tế. Tham gia Hội nghị, ông Lương Trí Thìn, Tổng Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Xanh, chia sẻ, thời điểm hiện tại, khó nói đến chuyện đầu tư dài hạn và tràn lan vì tình hình còn nhiều biến động, nếu không biết cấu trúc lại danh mục đầu tư và đưa ra những sản phẩm thích hợp với nhu cầu thì khó trụ lại.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật