Hủy
Nhân vật

Nông thôn “bội thực” lao động dư thừa

Thứ Hai | 12/01/2009 16:18

Tình trạng lao động mất việc ở thành phố ồ ạt dội ngược về nông thôn sẽ gây thêm những khó khăn chồng chất cho khu vực này.

Trong cơn bão suy giảm kinh tế toàn cầu, người lao động Việt Nam đang bắt đầu đối mặt với tình trạng mất việc, đặc biệt là làn sóng người lao động từ thành phố, khu công nghiệp dội ngược lại nông thôn. Liệu khu vực kinh tế nông thôn có thể hấp thụ được bao nhiêu phần trăm lượng lao động này? NCĐT đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách Phát triển Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dự kiến số lao động mất việc khoảng 300.000 người, nhưng có ý kiến cho rằng phải hơn 1,1 triệu người. Theo ông thì sao?

TS. Đặng Kim Sơn: Về số liệu, tôi cho rằng chưa thể biết chính xác bao nhiêu vì từ trước tới nay ta chưa theo dõi vấn đề này. Con số do Bộ đưa ra là dự tính theo sự tăng, giảm tổng sản phẩm nội địa. Theo tôi, cách tính này khá xa thực tế. Số người mất việc phải nhiều hơn vì lực lượng lao động nông thôn ra đô thị làm việc được chia làm 2 nhóm: Chính thức và phi chính thức. Nhóm chính thức có hợp đồng lao động, bảo hiểm... thì có thể tính được. Còn nhóm phi chính thức (cửu vạn, xe ôm, giúp việc gia đình, phụ hồ, buôn bán…) không tính được.

Khi kinh tế khó khăn, cả 2 nhóm này đều dội trở lại nông thôn. Điều này sẽ gây ra một loạt tác động xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống khu vực nông thôn, nhất là thu nhập sẽ giảm đi rất nhiều. Bởi đối với hộ gia đình ở nông thôn, phần thu nhập do người đi làm xa gửi về rất quan trọng.

Theo ông, khu vực nông thôn có thể hấp thụ được bao nhiêu phần trăm số lao động này?

TS. Đặng Kim Sơn: Khu vực nông thôn rất khó hấp thụ lao động dội về trong bối cảnh hiện nay. Kinh tế nông thôn chia làm 2 mảng: Mảng kinh tế nông nghiệp đang khó khăn do nông sản giảm giá, sức tiêu thụ giảm. Mảng thứ hai là kinh tế làng nghề gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành nghề phi nông nghiệp, đang điêu đứng do 2 đợt khủng hoảng: lạm phát và chống lạm phát đều tác động vào nhóm này. Hiện các doanh nghiệp, làng nghề nông thôn có nguy cơ phá sản rất nhiều, nếu không thì cũng sụt giảm thu nhập. Vì vậy khả năng hấp thụ lao động hầu như không đáng kể.

Có thể nói, khó khăn của khu vực nông thôn đang nhân lên gấp đôi. Với vai trò là người nghiên cứu chính sách, theo ông, cần có chính sách nào để giải quyết vấn đề lao động cho khu vực này?

TS. Đặng Kim Sơn: Để giải quyết vấn đề này, cần những giải pháp dài hạn. Có 3 mảng quan trọng mà chúng ta phải làm từ lâu rồi, giờ càng cần phải làm. Đó là:

Phát triển nông nghiệp bền vững và mạnh mẽ, tức sức sản xuất nông nghiệp phải có khả năng cạnh tranh trong bất kỳ tình huống nào. Thời gian qua, chúng ta cạnh tranh bằng giá rẻ, sản phẩm thô với khối lượng nhiều. Tuy sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu nhiều nhưng so với công sức bỏ ra thì không tương xứng. Nếu nền nông nghiệp tăng trưởng theo chiều sâu, sản phẩm chất lượng cao, vệ sinh an toàn, khối lượng ổn định thì ngay trong thời điểm này vẫn có thể bán được hàng. Vì trong tình trạng khủng hoảng, sản phẩm công nghiệp có thể ít người mua, nhưng dứt khoát gạo thì phải ăn, thịt phải dùng. Nông nghiệp phải chuyển sang nông nghiệp hiện đại, khuyến khích tích tụ ruộng đất thành trang trại, gia trại… Giờ đây, sản xuất nông nghiệp không còn là mồ hôi và đất mà là vấn đề của khoa học công nghệ.

Thứ hai là phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp. Chiến lược phát triển công nghiệp thời gian qua luôn thiếu lực lượng lao động chất lượng, tay nghề cao, nên chủ yếu cạnh tranh bằng lao động giá rẻ. Lao động Việt Nam ở khâu cuối cùng của lực lượng lao động thấp, vì thế khi khó khăn, cần cắt giảm lao động, người ta sẵn sàng cắt giảm lực lượng này như trong ngành dệt may, da giày, xây dựng…

Ngành công nghiệp của Việt Nam ra sức phát triển sản xuất xi măng, sắt thép, lắp ráp ôtô… trong khi 75% máy móc nhập của Trung Quốc hoặc là hàng đã qua sử dụng. Làm máy kéo thì dễ hơn ôtô, nhưng không ai làm. Anh nông dân phải tự chế từ cái máy cắt cỏ đến trực thăng.

Thứ ba là kinh tế nông thôn Việt Nam rất èo uột. Giữa nông thôn và thành thị không có sự kết nối tốt. Chẳng hạn, toàn bộ khối làng nghề, vùng nguyên liệu với đô thị hầu như không có sự liên hệ nào trong sản xuất.

Nhà máy cần được đưa về nông thôn, hiện 70% nhà máy lớn, khu công nghiệp bám vào đô thị. Nông dân miền Bắc phải đi hàng ngàn cây số, sống chen chúc ở Đông Nam bộ để làm việc, Tết đến là chen chúc nhau về quê trong khi hoàn toàn có thể xây nhà máy ở đồng bằng sông Hồng.

Tương tự, Hà Nội hay TP.HCM không thể mở rộng mãi, nên hướng tốt nhất là phát triển các thành phố vệ tinh. Ví dụ, Hà Nội nên đưa trung tâm dịch vụ, khu hành chính về các thành phố Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Tây, Hòa Bình… Công nghiệp hóa, đô thị hóa phải hướng về phục vụ nông thôn, như vậy, thu nhập của nông dân sẽ được nâng cao. Phát triển nông thôn là phát triển tổng hợp, kinh tế nông thôn phải có dịch vụ và công nghiệp. Như vậy, không gian, kết cấu nông thôn mới thay đổi. Làm được như vậy thì trong những lúc khó khăn, khu vực nông thôn, nơi chiếm 70% dân số, mới có thể là thị trường tốt. Trong mọi tình huống, cơ cấu nền tảng như thế không bị đánh sập được. Còn hiện nay, 2 nền tảng kinh tế nông thôn và thành thị không gắn kết, sập bên nọ lại đổ dồn lên bên kia.

Nhưng năm 2009 được xác định có nhiều thách thức, nên cũng cần những giải pháp ngắn hạn?

TS. Đặng Kim Sơn: Trong ngắn hạn ta vừa tranh thủ chính sách kích cầu tiêu dùng vừa giải quyết việc làm bằng việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.

 

Trước hết, nguyên tắc là gói kích cầu sẽ hỗ trợ những người bị thiệt hại nhất, có nguy cơ không có lối thoát nhất. Theo tôi, hiện lực lượng lao động được xếp thành 3 nhóm: Lao động ở đô thị bị “tống” về; nông dân sản xuất hàng xuất khẩu bị mất thị trường và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề ở nông thôn gặp khó khăn ở thị trường nội địa. Ngoài ra còn có nhóm thứ 4, xuất phát từ 3 nhóm trên, họ vừa thoát nghèo và trong tình hình này có khả năng rơi trở lại đói nghèo. Tất nhiên trong bối cảnh này, nhóm nào cũng khó khăn, nhưng các nhóm nêu trên là cần được bảo vệ trước nhất, vì họ chiếm số đông, dễ bị kiệt quệ thu nhập, không có ai bảo vệ, mất việc là họ “chết”.

Thứ hai là mua tất cả cái gì thừa của xã hội như xi măng, sắt thép, cá, lúa gạo… để biến thành công trình. Giải pháp này vừa tiêu thụ hàng hóa cho nông dân, đảm bảo cho họ có vốn sản xuất, có thu nhập trong khó khăn, vừa tạo việc làm cho lao động khu vực này. Việc tạo việc làm hiện nay có thể xem như chiến lược “nạp pin”. Ví dụ, Nhà nước mua hết gạo ở đồng bằng sông Cửu Long (giờ đang thừa khoảng 500.000-800.000 tấn) để nông dân có vốn sản xuất. Với các địa phương khó khăn, cho thêm xi măng, sắt thép… để xây dựng cơ sở hạ tầng (công trình thủy lợi, đường giao thông, nhà kho, sân phơi, bến cảng…).

Nguyên tắc ở đây là Nhà nước không thuê doanh nghiệp như kiểu Chương trình 135 (hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn)mà tạo việc làm cho người lao động địa phương thông qua ban quản lý dự án hay giao cho dân càng tốt. Mua trực tiếp của dân, cấp trực tiếp cho dân, lấy xi măng, sắt thép giao cho dân làm đường, nhà kho, sân phơi, đường giao thông, cầu cống… theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chiến lược “nạp pin” này chưa thể sản sinh ra cái gì bây giờ, nhưng trong tương lai nó làm cho giá trị nông sản tăng cao, chất lượng thay đổi vì có cơ sở hạ tầng thuận lợi phục vụ sản xuất, thương mại.

Một điểm đáng lưu ý trong giai đoạn này là ở các vùng khó khăn phải đặt hệ thống giám sát, kịp thời trợ cấp khó khăn cho vùng nghèo nhất như Tây nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Không để con cái họ bỏ học, đứt bữa. Nếu cần thiết, có thể phát phiếu lương thực cho các đối tượng khó khăn. Tất cả các điểm nóng phải được giải quyết, xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện và tránh để xảy ra thêm điểm nóng khác.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật