Hủy
Nhân vật

Sách lược sau khủng hoảng

Thứ Hai | 31/08/2009 12:10

Định vị lại doanh nghiệp, xác định mục tiêu và tái cơ cấu là các sách lược có thể giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội sau khủng hoảng.

Sau khi suy giảm mạnh trong nửa cuối năm 2008 và quý I/2009, kinh tế toàn cầu đã có những tín hiệu khả quan kể từ quý II.

Nhận diện thời cơ và thách thức

Tại Mỹ, chỉ số bán lẻ trong tháng 5 đã tăng 0,5% sau 4 tháng âm liên tục. Tại châu Âu, các chỉ số như sản xuất công nghiệp, bán lẻ có xu hướng giảm chậm lại. Riêng các chỉ số kinh tế vĩ mô của châu Á thì đạt mức tăng trưởng dương. Chính sách kích cầu trên toàn thế giới đã mang lại những dấu hiệu lạc quan trong hoạt động giao thương. Chẳng hạn, tính đến hết tháng 6, chỉ số đo lường sức khỏe ngành vận tải biển (Baltic Dry Index - BDI) đã tăng 386% so với cuối năm 2008.

Tuy nhiên, nếu so với mức trung bình của năm 2008, BDI vẫn thấp hơn 40,5%. Chưa kể, tình trạng bảo hộ hàng hóa vẫn tiếp diễn tại nhiều quốc gia. Tổ chức Thương mại Thế giới cho hay, riêng trong quý II/2009, 24 nước và Liên minh châu Âu đã đưa ra thêm 83 biện pháp nhằm hạn chế giao thương, khuyến khích người dân dùng hàng nội. Vì thế, Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhận định, khả năng phục hồi của kinh tế thế giới vẫn chưa bền vững và thương mại quốc tế sẽ tăng trưởng âm trong năm nay. Điều này đã và sẽ tác động tiêu cực đến các nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu như Việt Nam.

Hiện tại, nhờ gói kích cầu, kinh tế Việt Nam đã chuyển biến tích cực. Theo Tổng Cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP trong quý II/2009 đã tăng lên mức 4,5% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp quý II tăng 11,21% so với quý I. Nhu cầu tiêu dùng, đầu tư cũng tăng trở lại (chỉ số bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm tăng 22% so với cùng kỳ năm 2008).

Dù vậy, có thể thấy, thách thức của kinh tế Việt Nam vẫn còn. Việt Nam vẫn nhập siêu 2,1 tỉ USD, nhập khẩu hàng tiêu dùng ngày càng tăng (6 tháng đầu năm 2009 tăng lên 6,9%, cao hơn cùng kỳ năm trước). Điều này chứng tỏ hàng hóa trong nước đang chịu sức ép cạnh tranh từ hàng ngoại. Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu vẫn giảm (6 tháng đầu năm 2009 giảm 10,36% so với cùng kỳ năm trước).

Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nguy cơ lạm phát một khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao. Tính đến hết tháng 6, CPI đã tăng 3,94% so với cùng kỳ năm ngoái. Các chuyên gia dự báo, CPI sẽ còn tăng dưới tác động của chính sách tiền tệ - tài khóa nới lỏng và giá hàng hóa thế giới đang tăng trở lại.

Ngoài ra, khó khăn của Việt Nam còn do nguồn vốn. Hiện nay, mức độ thu hút vốn trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đã giảm cả về số lượng dự án lẫn giá trị (6 tháng đầu năm 2009, giá trị vốn mới và vốn tăng thêm chỉ đạt 8,7%, giảm 77,4%; số dự án mới giảm 65,6% so với cùng kỳ 2008). Lượng vốn gián tiếp nước ngoài vẫn chưa có dấu hiệu tăng trở lại. Riêng lượng kiều hối được Vietcombank dự báo sẽ giảm khoảng 2-3 tỉ USD so với mức 8 tỉ USD năm 2008. Vì vậy, mọi kỳ vọng đều đổ vào vốn viện trợ phát triển nhưng tính đến cuối tháng 6, mới chỉ đạt 1,783 tỉ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ 2008.

35%

Mức tăng doanh thu 2008 so với 2007 của 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.

Bởi thế, Chính phủ đã ban hành một loạt giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn. Trong 6 tháng đầu năm, Chính phủ đã đẩy mạnh phát hành trái phiếu để huy động vốn (700 tỉ đồng trái phiếu được phát hành); nâng biên độ tỉ giá (từ 3% lên 5% và điều chỉnh giảm tỉ giá liên ngân hàng) để hỗ trợ xuất khẩu; giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 7% nhằm duy trì môi trường tiền tệ ổn định. Chính phủ còn triển khai gói kích cầu thứ hai (từ tháng 5) để hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thuế và tăng cường đầu tư.

Về phía doanh nghiệp, theo quan sát của ông John Hing Vong, Phó Tổng Giám đốc Sacombank, “không phải đợi đến bây giờ doanh nghiệp mới có hành động ứng phó”.

Hành động

Năm 2008, mặc dù kinh tế khó khăn nhưng 500 doanh nghiệp được đánh giá là lớn nhất Việt Nam về doanh thu (theo bảng xếp hạng VNR 500 của Vietnamnet), vẫn thể hiện vai trò đầu tàu của mình. Bằng chứng là tổng doanh thu năm 2008 của họ vẫn tăng 35% so với năm 2007. Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn nỗ lực chèo chống để vượt khủng hoảng. Theo phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 91% doanh nghiệp vẫn sản xuất ổn định, trên 50% doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, để nắm bắt cơ hội sau khủng hoảng, doanh nghiệp phải có sách lược cụ thể như sau:

Định vị lại doanh nghiệp: Kinh tế suy thoái, tuy tác động tiêu cực đến hoạt động doanh nghiệp, nhưng lại tạo ra “khoảng lặng” cần thiết, là cơ hội để doanh nghiệp tự đánh giá lại mình. Vì thế, có 2 lĩnh vực doanh nghiệp cần xem xét là môi trường kinh doanh và nội lực.

     Đánh giá môi trường kinh doanh là nghiên cứu xem có yếu tố nào trong môi trường đó tác động đến mục tiêu và chiến lược của công ty hay không, ví dụ như tình hình kinh tế, tài chính, các vấn đề chính trị, công nghệ, áp lực thị trường, thị phần và khả năng cạnh tranh…
  •  
         Nội lực doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần phân tích điểm mạnh và yếu của mình trong các lĩnh vực quản trị, marketing, tài chính, sản xuất, phân phối, nghiên cứu và phát triển.

Xác định mục tiêu: Doanh nghiệp cần xác định mình muốn đi đến đâu trên con đường kinh doanh. Để mục tiêu sát với thực tế, phải dựa trên thực lực doanh nghiệp, kết hợp quan sát tình hình chung. Mục tiêu của doanh nghiệp thường là tăng doanh thu, lợi nhuận, thị trường, thị phần và tái đầu tư.

Tuy nhiên, trong môi trường đầy biến động thì mục tiêu cần được linh hoạt. Chẳng hạn, nhận thấy tình hình kinh tế năm 2009 không u ám như dự báo, hoạt động kinh doanh cũng thuận lợi, Tập đoàn Hòa Phát cho biết đã điều chỉnh mục tiêu doanh thu và lợi nhuận theo hướng tăng.

Tái cơ cấu: Sau khủng hoảng, tái cơ cấu là cách để doanh nghiệp tiếp tục đứng vững. TS. Trần Du Lịch cho rằng, giống như một con người vừa vượt qua cơn bệnh nặng, doanh nghiệp sau khi “sống sót” qua khủng hoảng phải tái cơ cấu để phục hồi và phát triển”.

  • Sau khi xác định lại mục tiêu, doanh nghiệp sẽ phải khoanh vùng đối tượng khách hàng. Điều này vừa giúp giảm bớt chi phí cho marketing, vừa dễ dàng đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng và sức hút của thương hiệu.

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, doanh nghiệp có xu hướng tập trung phục vụ khách hàng truyền thống. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, khủng hoảng là cơ hội để thâm nhập thị trường mới, nơi các đối thủ đã “rút đi”. Chẳng hạn, do thu nhập của người dân các nước giảm nên xuất khẩu nông sản, thực phẩm giá rẻ sẽ có cơ hội tăng trưởng.

Trong một môi trường mà cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì hơn thua nhau chính là ở chất lư ợng. Vì thế, nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đưa ra những cải tiến về quy trình, công nghệ và dịch vụ là cách để doanh nghiệp thu hút khách hàng. Tuy nhiên, theo bà Phạm Thị Thu Hằng, Viện trưởng Viện Phát triển Doanh nghiệp, tỉ lệ hàng hóa được đổi mới trong năm 2008 vẫn không cao. Cụ thể, tỉ lệ hàng hóa đổi mới trên tổng doanh thu năm 2008 chỉ chiếm 49%. Trong khi đó, giá các loại máy móc, thiết bị hỗ trợ sản xuất đã giảm giá còn 1/2-1/3 so với trước. Theo ông Trần Du Lịch, doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội giá thiết bị đang rẻ, kết hợp với vốn vay hỗ trợ từ chính sách kích cầu để đầu tư, cải tiến sản phẩm.

Dù tồn tại được sau cơn bão kinh tế nhưng doanh nghiệp nào cũng ít nhiều “tơi tả”. Vì thế, để khôi phục sức mạnh và phù hợp hơn với môi trường mới, doanh nghiệp cần tái cơ cấu, thiết kế mô hình tổ chức và quản trị sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tính đến khả năng mua bán, sáp nhập như một cách tối đa hóa lợi ích các chủ sở hữu. Việc mua bán sáp nhập cũng sẽ tạo ra cơ hội chiếm lĩnh thị trường, giành thị phần, nhằm tránh một cuộc khủng hoảng khác có thể xảy ra. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần tái cơ cấu nhân lực.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật