Hủy
Thương trường

ĐI TÌM ẨN SỐ (tiếp theo)

Thứ Hai | 06/07/2009 16:32

Phân tích các chỉ số liên quan đến khả năng sinh lời, khả năng tài chính sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá được tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.

Bên cạnh chỉ số thanh khoản và chỉ số hoạt động mà Nhịp Cầu Đầu Tư đã đề cập trong bài viết trước, nhà phân tích còn đặc biệt quan tâm đến những chỉ số liên quan đến khả năng sinh lời, khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Nhóm chỉ số sinh lời

Có 5 loại lợi nhuận để đo khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nhưng lợi nhuận sau thuế vẫn được chọn sử dụng nhiều nhất (Lợi nhuận sau thuế = doanh thu - giá vốn - chi phí - khấu hao - lãi vay - thuế). Các chỉ số thuộc nhóm này gồm:

Chỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Đây là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu. ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý một cách hiệu quả các chi phí hoạt động.

ROS = Lợi nhuận sau thuế/doanh thu

Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Đây là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ đầu tư tài sản.

ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản

Theo phương pháp DuPont (một chỉ số sẽ được tách ra thành 2 hay nhiều chỉ số khác) thì ROA cũng được tính bằng (lợi nhuận sau thuế/doanh thu) x (doanh thu/tài sản).

Như vậy, ROA chịu tác động bởi 2 yếu tố là ROS và vòng quay tài sản. Để tăng ROA, doanh nghiệp có thể thúc đẩy ROS hoặc tăng vòng quay tài sản.

Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là thước đo hiệu quả nhất để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp. ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh càng lớn.

ROE = Lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu

ROE còn được tính bằng (Lợi nhuận sau thuế/doanh thu) x (doanh thu/tài sản) x (tài sản/vốn chủ sở hữu). Với cách tính này, ROE chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như ROS, vòng quay tài sản, đòn bẩy tài chính. Muốn đẩy mạnh ROE, doanh nghiệp có thể tăng ROS, vòng quay tài sản hay gia tăng nợ vay.

Theo ông Lê Đạt Chí, Trưởng khoa Tài chính Doanh nghiệp, Đại học Kinh tế TP.HCM, “trong nhiều trường hợp, chỉ số ROA, ROE đã không phản ánh đúng tình hình doanh nghiệp”. Chẳng hạn, ROE của Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (VST) năm 2008 là 37,9%, cao hơn nhiều so với mức trung bình ngành (7,6%). Tuy nhiên, con số này không có nhiều ý nghĩa khi 90% lợi nhuận mà VST đạt được trong năm qua lại đến từ việc thanh lý 3 con tàu cũ. Vì vậy, theo ông Chí, điều quan trọng khi phân tích chỉ số sinh lời là tìm hiểu nguồn gốc của lợi nhuận. Lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh thì mới đáng tin cậy.

Tuy nhiên, ở một số ngành như bất động sản và thủy sản, lợi nhuận kinh doanh đôi khi tăng đột biến nhờ vào những dự án, hợp đồng ký kết. Vì thế, cách khách quan để đánh giá ROS, ROE, ROA là loại bỏ những yếu tố bất thường trong lợi nhuận. Ngoài ra, nhà đầu tư nên xem xét các chỉ số này trong thời gian dài (ít nhất 3-5 năm) để đánh giá thế mạnh và khả năng phòng vệ của doanh nghiệp trước những biến động thị trường.

Nhóm cấu trúc vốn

Qua phân tích các chỉ số này, nhà đầu tư sẽ nhận biết hoạt động của doanh nghiệp được tài trợ như thế nào.

Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Chỉ số này cho thấy mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp. Chỉ số lớn chứng tỏ công ty đang sử dụng chính sách thâm dụng nợ. Chỉ số cũng phụ thuộc vào ngành nghề. Ở những ngành đòi hỏi đầu tư lớn như vận tải, dầu khí, xây dựng, chỉ số nợ thường cao.

Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu = tổng nợ/vốn chủ sở hữu

Chỉ số nợ trên tổng tài sản: Chỉ số này cho phép nhà đầu tư tính toán tỉ lệ nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp.

Chỉ số nợ trên tổng tài sản = tổng nợ/tổng tài sản

Chỉ số thanh toán lãi vay: Chỉ số này cho biết khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp. Nếu mất khả năng trả lãi vay, ngoài uy tín suy giảm, doanh nghiệp còn đứng trước nguy cơ phá sản.

Chỉ số thanh toán lãi vay = EBIT (tức lợi nhuận trước thuế và lãi vay)/lãi vay

Tuy nhiên, theo nhận định của ông Ngô Thanh Phát, phụ trách Phòng Phân tích Công ty Chứng khoán VIS, “chỉ số nợ cao hay thấp không quan trọng bằng việc nhà đầu tư xem xét đến đặc điểm nợ”. Nghĩa là nhà đầu tư phải tìm hiểu xem nợ này ngắn hạn hay dài hạn, nợ từ vay ngân hàng hay chiếm dụng vốn? Nợ này có phải chịu rủi ro từ chênh lệch tỉ giá? Tốc độ tăng nợ có lớn hơn tốc độ tăng vốn hay không? Doanh nghiệp phải trả lãi vay cao hay thấp?

Đặc biệt, nhà đầu tư cần chú ý đến mục đích sử dụng nợ. Nếu nợ được dùng để tài trợ cho những dự án khả thi (chẳng hạn, Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí đã tăng chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu từ 0,8 lên 1,8 trong năm 2008 để hỗ trợ vốn cho 2 giàn khoan mới) thì việc vay nợ là không đáng ngại. Còn ngược lại, tỉ lệ nợ cao chỉ làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp.

Nhóm chỉ số đầu tư

Các chỉ số này đo lường mức độ hấp dẫn và thu hút nhà đầu tư.

Chỉ số lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS): Đây là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá trị cổ phiếu. Chỉ số càng cao cho thấy khả năng sinh lời của công ty càng lớn.

EPS = Lợi nhuận sau thuế/số lượng cổ phiếu

Đầu tư cổ phiếu là đầu tư vào sự kỳ vọng. Vì thế, để ước đoán EPS tương lai, nhà phân tích phải dựa vào các kế hoạch kinh doanh và lợi nhuận dự kiến mà doanh nghiệp công bố. Nhưng vì doanh nghiệp thường công bố con số kế hoạch thấp hơn thực tế (nhằm tránh bị áp lực, dễ vượt chỉ tiêu), nên độ tin cậy của EPS có thể không cao. Chưa kể trường hợp công ty phát hành thêm hoặc mua lại cổ phiếu thì EPS phải được điều chỉnh.

Chỉ số giá trên thu nhập (P/E): Đây là chỉ số thể hiện sự quan tâm của nhà đầu tư và việc họ sẵn sàng trả giá để tìm kiếm lợi nhuận từ cổ phiếu.

P/E = thị giá của cổ phiếu/EPS

Có nhiều ý kiến khác nhau về P/E. P/E cao cho thấy cổ phiếu đã bị định giá quá cao và đang ở mức rủi ro. Nhưng đó cũng là dấu hiệu cho thấy tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Vì vậy, việc đánh giá P/E cần được đặt trong mối quan hệ so sánh.

Tóm lại, đánh giá và tính toán về các chỉ số tài chính là công việc không đơn giản. Cùng một chỉ số nhưng lại có những phương pháp khác nhau. Vì vậy, đại diện của Công ty Dịch vụ Tài chính Vifinfo cho rằng, phân tích chỉ số phải xem xét đến mục đích và đánh giá nguồn tin.

Chỉ số tài chính sẽ không có ý nghĩa nếu không được so sánh, đối chiếu. Nhà đầu tư có thể so sánh với chỉ số trung bình ngành để thấy được vị thế của doanh nghiệp, hoặc so sánh chỉ số với các chuẩn mực chung (ví dụ, khả năng thanh toán > 1, tỉ lệ nợ < 1, chu kỳ thu nợ < 60 ngày). Đặc biệt, việc phân tích chỉ số nên được đặt trong bối cảnh cụ thể. Cũng cần lưu ý, các chỉ số tài chính cũng biến động qua từng thời kỳ (quý, năm).

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật