Hủy
Thương trường

Dò lạm phát

Thứ Hai | 20/07/2009 10:48

Chỉ số lạm phát tăng liên tục qua từng tháng trong nửa đầu năm 2009 cho thấy sức ép lạm phát đang tăng lên.

Theo Tổng cục Thống kê, lạm phát 6 tháng đầu năm 2009 tăng 2,68% so với tháng 12.2008. Thế nhưng, chỉ số lạm phát lại tăng lên liên tục qua từng tháng (tháng 3 tăng 0,35%, tháng 4 tăng 0,44% và tháng 5 tăng 0,55%). Điều này cho thấy sức ép lạm phát đang tăng lên.

Sức ép từ cung tiền

Sức ép làm tăng lạm phát xuất phát từ việc Chính phủ bơm tiền vào nền kinh tế thông qua các gói kích cầu. Theo lý thuyết kinh tế, đó là nguy cơ lạm phát do cung tiền.

Nguyên nhân của tình trạng lạm phát cao từ nửa cuối năm 2007 và năm 2008 là do lượng tiền đưa vào lưu thông quá nhiều, nhưng lại không kịp thời thu hồi bằng các công cụ phái sinh. Năm 2009, nguy cơ lạm phát xuất phát từ việc Chính phủ triển khai gói kích cầu trị giá 8 tỉ USD (khoảng 12% GDP). Tính đến giữa tháng 7.2009 đã có khoảng 415.000 tỉ đồng được cho vay theo chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất. Chính sách này đã bắt đầu phát huy tác dụng, nhưng độ trễ của chính sách sẽ rơi vào nửa cuối năm nay. Bằng cách tính toán riêng, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, đưa ra mức lạm phát thấp nhất của 6 tháng còn lại là 5% và cao nhất là 25%.

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm 2009, tốc độ tăng cung tiền đã vượt tốc độ tăng GDP. Trong khi GDP tính theo giá thực tế chỉ tăng 12,4% thì cung tiền lại tăng tới 16-17% so với cùng kỳ năm ngoái. Thông thường, tốc độ cung tiền và tăng GDP phải tương đương nhau, hoặc mức tăng cung tiền thấp hơn mức tăng GDP thì mới không tạo sức ép lạm phát. Do đó, đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang phải đối mặt với nguy cơ lạm phát cao nếu trong 6 tháng còn lại, nếu Nhà nước không có biện pháp rút bớt tiền ra khỏi lưu thông. Thực tế, mục tiêu ban đầu của Ngân hàng Nhà nước là tăng trưởng tín dụng không quá 23%. Nhưng với việc thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất, Chính phủ đã chấp thuận đề xuất của Ngân hàng Nhà nước tăng giới hạn này lên 30%.

Điều đáng lo ngại là vấn đề kiểm soát dòng vốn kích cầu đi đúng hướng. Nếu tiền đã giải ngân bị sử dụng sai mục đích và không hiệu quả, sẽ dẫn đến cung tiền tăng mà nợ xấu cũng tăng và hệ lụy là tình trạng lạm phát sẽ rất nghiêm trọng. Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đã chỉ ra một số tiêu cực có thể xảy ra nhưng khó đo lường. Đó là sự thất thoát, sử dụng một cách lãng phí vốn vay, gánh nặng nợ nần, đầu cơ nóng và cả nguy cơ doanh nghiệp “bắt tay” với ngân hàng trong việc lập các dự án vay ảo để chiếm đoạt vốn hỗ trợ kích cầu.

PGS.TS Đinh Xuân Hạng, Học viện Tài chính, còn nêu ra một kênh khác dẫn đến lượng tiền lưu thông tăng. Đó là các khoản tiền gửi tiết kiệm với mức lãi suất rất cao, 19%/năm từ giữa năm 2008, nay đã đến thời điểm đáo hạn. Một phần khoản tiền này sẽ được người gửi tiếp tục gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, sẽ có lượng tiền không nhỏ đầu tư vào các thị trường được kỳ vọng có tỉ suất sinh lời cao như chứng khoán và bất động sản, góp phần tăng cung tiền tạo sức ép lạm phát.


Giá hàng tiêu dùng tăng góp phần làm tăng sức ép lạm phát.


Cầu kéo và chi phí đẩy

Với việc thực hiện các gói kích cầu, nền kinh tế đang có những chuyển biến tích cực, kéo theo hoạt động thương mại trong nước tăng cao. Điều này cho thấy cầu nội địa đang tăng. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoạt động thương mại trong nước tăng trưởng cao qua các tháng (sau khi đã loại trừ yếu tố giá). Cụ thể, tháng 3 tăng 6,6%, tháng 4 tăng 7,4%, tháng 5 tăng 8,6% và 6 tháng ước tăng tới 8,8%, gấp hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng qua (3,9%). Đó là cơ sở để dự báo, thương mại trong nước 6 tháng còn lại sẽ sôi động hơn, kéo theo nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ tăng mạnh. Đây cũng là yếu tố dẫn đến lạm phát và lý thuyết kinh tế gọi là lạm phát do cầu kéo.

Tuy nhiên, cầu tăng hơn cung một cách tương đối không phải là vấn đề quá lớn đối với lạm phát. Điều mà bà Phan Thanh Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính Tiền tệ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) lo lắng chính là sự yếu kém trong hệ thống phân phối của các ngành hàng, tình trạng độc quyền, liên minh độc quyền làm hại đến lợi ích của người tiêu dùng. Tình trạng giá sữa tăng như hiện nay là một ví dụ. Bà cũng cảnh báo hệ thống kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như thuốc chữa bệnh, sắt thép, phân bón… còn chồng chéo và không kiểm soát được, có thể dẫn đến lũng đoạn thị trường.

Một yếu tố nội tại khác gián tiếp làm tăng lạm phát là việc tăng giá đầu vào của năng lượng, nhiên liệu như điện và xăng dầu. Theo bà Hà, độ trễ của việc tăng giá điện và xăng dầu là khá lớn. Nghĩa là càng về sau thì tác động của việc tăng giá này sẽ rõ nét hơn. Đặc biệt, đợt tăng giá xăng vào cuối tháng 6.2009 sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng khoảng 0,25%. Đây là dạng lạm phát do chi phí đẩy.

Một nhân tố quan trọng khác không thể bỏ qua là lãi suất. Ngân hàng Standard Chartered cho rằng, mức lãi suất cơ bản 7%/năm hiện nay là hợp lý và Ngân hàng Nhà nước nên tiếp tục duy trì sự ổn định của lãi suất từ nay đến cuối năm nhằm giảm sức ép lên chi phí vốn của doanh nghiệp.

Theo dự báo của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thuộc Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, lạm phát trong năm nay có thể dao động từ 6,3-9,3%, nhưng nguy cơ lạm phát cao trong năm 2010 là hoàn toàn có thể xảy ra do hiệu ứng tích lũy, khi chính sách kích thích kinh tế vẫn tiếp tục được thực hiện ở quy mô lớn.

Nếu vốn kích cầu bị sử dụng sai mục đích và không hiệu quả, sẽ dẫn đến cung tiền tăng mà nợ xấu cũng tăng và hệ lụy là tình trạng lạm phát sẽ rất nghiêm trọng.

9,3%

Mức lạm phát cao nhất của năm 2009, theo Đại học Quốc gia Hà Nội.


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới