Hủy
Thương trường

Tương lai nào cho ngân hàng đầu tư Việt Nam?

Thứ Hai | 22/06/2009 16:32

Trong khi sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư Mỹ trong năm 2008 khiến thị trường tài chính thế giới e ngại mô hình này thì ở Việt Nam ngân hàng đầu tư lại đang hợp thời, hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, xác định con đường đi cho ngân hàng đầu

ỞMỹ, trước đây, ngân hàng đầu tư thuần (chỉ thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư) như Morgan Stanley, Goldman Sachs, Merrill Lynch, Bear Stearns, Lehman Brothers không bị Nhà nước kiểm soát chặt chẽ như ngân hàng thương mại. Hay nói khác đi, việc thành lập công ty tài chính (chẳng hạn như mô hình ngân hàng đầu tư) dường như rất dễ dàng (không đòi hỏi vốn tối thiểu). Trong khi đó, ngân hàng thương mại, vì là tổ chức tài chính huy động vốn từ cá nhân và thể nhân khác nhau trong xã hội nên bị kiểm soát rất chặt chẽ. Và chính sự quản lý lỏng lẻo đối với nhóm ngân hàng đầu tư này đã góp phần vào quá trình sụp đổ mang tính liên hoàn của các ngân hàng đầu tư (investment bank - IB) Mỹ trong năm 2008.

Giờ đây, các ngân hàng đầu tư Mỹ đã tồn tại trong một “thân xác” mới là ngân hàng đa năng, kết hợp thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Giới chuyên gia tài chính quốc tế cho rằng mô hình này có thể giảm thiểu rủi ro so với ngân hàng đầu tư thuần trước kia.

Lịch sử IB thuần của Mỹ cho thấy, các IB nắm giữ tỉ lệ tài sản dài hạn quá lớn (chẳng hạn cổ phiếu trong ngành bất động sản), nhưng lại không có chức năng huy động vốn ngắn hoặc trung hạn (như một cách dự trữ vốn phòng hộ), nên khi thị trường bất động sản sa sút họ không thể xoay xở kịp để trả đúng hạn các khoản nợ đã vay để đầu tư vào lĩnh vực này. Vì vậy, sự chuyển đổi mô hình từ IB thuần sang ngân hàng đa năng giúp tạo tính thanh khoản thường xuyên cho ngân hàng, tạo được sự cân bằng.

Nhắc lại câu chuyện của ngân hàng đầu tư Mỹ để đặt vấn đề: sau thảm cảnh các IB Mỹ, mô hình ngân hàng đầu tư có còn hấp dẫn hay không, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Có thể nhận định rằng, trong khi ở Mỹ khái niệm “ngân hàng đầu tư” đã trở thành một nỗi đau không muốn khơi lại thì ở Việt Nam mô hình này dường như đang là xu hướng của tương lai. So sánh hiện trạng ngân hàng đầu tư tại Mỹ vừa qua và tại các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam, ông Dương Hải, Trưởng Đại diện Ngân hàng Đầu tư Vietnam Partners LLC, nói: “Người già chống gậy không có nghĩa là người trẻ cũng chống gậy theo”.

Việt Nam cần ngân hàng đầu tư

Trung Quốc và một số nước khác đã khai thác triệt để thị trường vốn quốc tế hàng thập kỷ qua. Giai đoạn 2002-2005, dù thị trường cổ phiếu Trung Quốc tụt dốc mạnh, nhưng các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn huy động được trên 100 tỉ USD từ các thị trường vốn quốc tế (thị trường nội địa khi đó chỉ khoảng 40 tỉ USD). Từ năm 2000 đến nay, Trung Quốc đã huy động thành công gần 200 tỉ USD từ các thị trường vốn quốc tế. Như vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc hiện nay có đủ lực để cạnh tranh toàn cầu.

Thành công đó của doanh nghiệp Trung Quốc có sự góp sức rất lớn của các ngân hàng đầu tư. Thế nhưng, rất nhiều người, thậm chí cả những chuyên gia tài chính tại Việt Nam, vẫn còn nhầm lẫn hoặc có những cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm “ngân hàng đầu tư”.

Ông Nguyễn Nam Sơn, người sáng lập và đồng điều hành Vietnam Capital Partners, có 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư toàn cầu, từng giữ vị trí Giám đốc Điều hành Citigroup Hồng Kông, nhận định: Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính trung gian, có chức năng tư vấn cho doanh nghiệp hoặc quốc gia về chiến lược tài chính, hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) bên cạnh việc huy động vốn (cổ phiếu và nợ) từ thị trường vốn toàn cầu (thông qua các nhà đầu tư quốc tế).

Ông Phạm Ngọc Quỳnh, Giám đốc Điều hành Khối dịch vụ Ngân hàng Đầu tư, Công ty Chứng khoán Thiên Việt, thì cụ thể hóa hoạt động của ngân hàng đầu tư là tư vấn IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu), bảo lãnh phát hành, mua bán cổ phần, tư vấn M&A, huy động vốn trung và dài hạn dưới hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay nợ thương mại, quản lý tài sản.

3 LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ

Đầu tư bằng tiền của chính mình.

Huy động và đầu tư bằng tiền của nhà đầu tư.

Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính - chiến lược.

Phải nói thêm rằng, ngân hàng đầu tư và công ty quản lý quỹ tuy có vẻ giống nhau nhưng vẫn có những khác biệt cơ bản. Nếu một công ty quản lý quỹ có sứ mệnh chính là huy động và giải ngân vốn cho nhà đầu tư thì 3 mảng quan trọng của ngân hàng đầu tư lại là 1) đầu tư bằng tiền của chính mình; 2) huy động và đầu tư bằng tiền của nhà đầu tư và 3) cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính - chiến lược. Cả 3 mảng này đều được IB xem trọng như nhau. Nhiều IB còn muốn tăng tỉ trọng kinh doanh mảng 2 và 3 (trong khi đối với công ty quản lý quỹ thì 2 mảng này dường như không quan trọng).

Tại Việt Nam, mô hình IB còn khá lạ lẫm, vì đa phần các doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng huy động vốn từ các thị trường quốc tế (do chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị doanh nghiệp, chẳng hạn như tính minh bạch và rõ ràng). Bên cạnh đó, những năm trước đây thị trường vốn nội địa có tính thanh khoản cao, doanh nghiệp không cần phải tìm đến nguồn vốn nước ngoài, nên cũng không cần đến mô hình ngân hàng đầu tư. Nhưng chuyện giờ đã khác.

 
Cùng với sự tụt dốc của thị trường chứng khoán kể từ năm 2007 và tăng trưởng tín dụng giảm, nhiều chuyên gia tài chính cho rằng, nguồn vốn quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Và IB, với vai trò là định chế tài chính trung gian, đang có nhiều đất để dụng võ hơn.

Ông Sơn, Vietnam Capital Partners, dự đoán, thời gian tới, các doanh nghiệp lớn Việt Nam chắc chắn sẽ huy động vốn nhiều hơn từ các thị trường quốc tế với 4 mục đích chính. Đó là 1) góp phần đa dạng hóa nguồn vốn, phòng khi thị trường vốn trong nước gặp khó; 2) thông qua đó, các đối tác quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp quản trị tốt hơn theo tiêu chuẩn toàn cầu; 3) doanh nghiệp có cơ hội phát triển thương hiệu trong nước và quốc tế và 4) chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh với các nước trong khu vực khi các rào cản thương mại được xóa bỏ.

Trong đó, việc các rào cản thương mại được xóa bỏ có lẽ là vấn đề quan trọng nhất trong thời gian tới. Các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rằng, một khi các rào cản này biến mất, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các nước trong khu vực. Một trong những chiến lược chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh khu vực là hợp tác với các đối tác chiến lược quốc tế, những người có khả năng chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, các sản phẩm và cả thị trường của họ. Đây chính là điểm mấu chốt để trả lời cho câu hỏi vì sao ngân hàng đầu tư lại trở nên quan trọng thời gian tới, bởi ngân hàng đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp xác định được đối tác chiến lược quốc tế và đưa cả hai đến với nhau.

Nhen nhóm

Dù đóng một vai trò quan trọng trong thị trường vốn nhưng mô hình IB tại Việt Nam hiện nay còn khá sơ khai. IB tại Việt Nam được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau.

Thứ nhất là mô hình IB “thuần” tại nội địa, chẳng hạn như Vietnam Capital Partners (VCP). VCP có quy mô tương đối lớn, gồm 16 người là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư, luật sư và kế toán (10 người phụ trách các hoạt động ở thị trường Việt Nam, 6 người chịu trách nhiệm về các vấn đề ở nước ngoài).

Ông Sơn cho biết, VCP tập trung vào 3 chức năng chính: 1) hợp tác với các ngân hàng đầu tư nước ngoài nhằm hỗ trợ các khách hàng quốc tế có ý quan tâm đến Việt Nam; 2) tư vấn cho các quỹ đầu tư và tập đoàn tài chính nước ngoài quan tâm đến Việt Nam và 3) tham vấn cho doanh nghiệp Việt Nam và các quỹ đầu tư địa phương trong việc huy động vốn, M&A hoặc liên doanh.

Thứ hai là IB quốc tế đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam và lập liên doanh để thực hiện những nghiệp vụ ngân hàng đầu tư khác nhau, như trường hợp Vietnam Partners LLC (VPL).

VPL xác định chức năng của họ là huy động vốn, đầu tư bằng tiền của chính mình (chủ yếu đầu tư vào công ty tiền IPO), quản lý tiền cho nhà đầu tư, tư vấn về chiến lược và tài chính.

Với nhiều nghiệp vụ như vậy, VPL lập ra các liên doanh khác nhau để thực hiện chúng, chẳng hạn liên kết với Ngân hàng BIDV để thành lập Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư BIDV - Vietnam Partners (BVIM). Đây cũng là công ty liên doanh 50/50 đầu tiên về quản lý quỹ tại Việt Nam, do Bộ Tài chính cấp phép. VPL cũng thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hong Long, dùng tiền của họ đầu tư vào Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) và Tập đoàn Nam Việt (Navico).

Con đường thứ ba hình thành IB là từ các công ty chứng khoán. SSI, chẳng hạn, có Công ty Quản lý Quỹ SSI (SSIAM), tồn tại như một pháp nhân độc lập, chuyên quản lý tài sản cho các nhà đầu tư (đây cũng là một hình thức nghiệp vụ của IB).

Ba con đường này sẽ phát triển ra sao trong thời gian tới?

Đối với 2 con đường đầu tiên, tức mô hình IB “thuần” về nghiệp vụ ngân hàng đầu tư thì cả ông Hải và ông Sơn đều xác định, hình thức phù hợp nhất ở Việt Nam là mô hình IB nhỏ (boutique IB), hướng đến các hợp đồng có giá trị không quá cao.

Ông T.C.T, giám đốc điều hành một công ty quản lý tài sản, phân tích, gần đây, với tình hình các quỹ đầu tư gặp nhiều khó khăn trong huy động vốn và các ngân hàng địa phương phải đối mặt với việc tăng trưởng tín dụng chậm dần, nguồn vốn tại Việt Nam đang dồi dào đã trở nên khan hiếm. Nhiều IB quốc tế đã rút về nước do kinh tế toàn cầu suy giảm và chủ trương cắt giảm chi phí ở nước ngoài. Ông T. cho rằng: “Đây là cơ hội lớn để các IB nhỏ ra đời, hướng đến các hợp đồng trị giá dưới 100 triệu USD mà các IB lớn có thể không màng đến”.

Trong khi đó, con đường thứ ba là chuyển đổi công ty chứng khoán thành IB hay công ty chứng khoán “đẻ” thêm những nghiệp vụ IB riêng biệt (như trường hợp của SSIAM) đang là đích đến của nhiều công ty chứng khoán.

Phao cứu sinh mới cho công ty chứng khoán?

Giống như các thị trường khác, Việt Nam sẽ phải trải qua một giai đoạn “củng cố và tái lập”, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng và chứng khoán. Một lãnh đạo đầu ngành chứng khoán từng tuyên bố, trong 5 năm tới, sẽ chỉ còn không quá 10 ngân hàng và 5 công ty chứng khoán thành công tại Việt Nam.

Hiện tại, hầu hết các công ty chứng khoán đều tập trung vào hoạt động bán lẻ với rất nhiều đối thủ cạnh tranh, cộng với sự bấp bênh về lợi nhuận trong mảng tự doanh. Vì thế, sắp tới, các công ty chứng khoán sẽ phải dốc sức tìm kiếm những nguồn lợi nhuận mới. Và một cách để tăng thêm nguồn tiền cho công ty là từ các nhà đầu tư tài chính và chiến lược, đây chính là hoạt động IB.

Ông Sơn, Vietnam Capital Partners, dự đoán: “Tôi tin rằng IB sẽ phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, nhưng sẽ chỉ có một vài IB thành công. Muốn được như thế, IB phải có uy tín với cả doanh nghiệp muốn huy động vốn lẫn nhà đầu tư (người rót vốn), phải có khả năng đánh giá thương vụ. Vì hoạt động IB còn mới tại Việt Nam nên không nhiều nhà kinh doanh mô hình này có khả năng trên”.

Vậy, sẽ có khoảng bao nhiêu công ty chứng khoán vươn lên mô hình IB một cách hiệu quả nhất? Và cần bao nhiêu IB thì đủ đáp ứng nhu cầu thị trường trong 5 năm tới? Ông Hải, Vietnam Partners LLC, bày tỏ: “Cách đây vài năm, có người cho rằng, có quá nhiều công ty chứng khoán, có người lại bảo quá ít, tôi thì không cho đó là quan trọng, mà tùy thuộc chất lượng của công ty ấy. IB cũng thế”.

Theo cách nói của ông Hải, sự sàng lọc khắc nghiệt trong ngành IB tất yếu sẽ diễn ra. Và các nhà kinh doanh IB ngay từ bây giờ đã phải hình dung những thách thức mà họ sẽ đối mặt.

 

Thách thức “banker”

Năng lực cung cấp dịch vụ IB phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ tư vấn (banker) và mạng lưới quan hệ với các nhà đầu tư. Nhưng banker luôn là bài toán làm đau đầu các IB quốc tế, càng khó giải đối với các IB Việt Nam, khi mặt bằng chất lượng banker còn nhiều hạn chế.

Ông Quỳnh, Công ty Chứng khoán Thiên Việt, phân tích, IB là dịch vụ mua bán vốn nên banker phải hiểu rõ về doanh nghiệp, ngành kinh doanh của thân chủ và cả đối tác, để thiết kế những giải pháp tốt nhất. Họ cũng phải có khả năng trình bày, đàm phán về những vấn đề đa dạng, không chỉ về kinh tế, tài chính mà cả pháp lý, không chỉ trong hiện tại mà liên quan rất nhiều đến tương lai và phải có hiểu biết sâu sắc về tình hình thị trường vốn. Ông Quỳnh nói: “Thử hình dung những người có năng lực như vậy hiếm đến mức nào. Thị trường lao động thế giới đánh giá banker thuộc nhóm lao động hiếm và đắt nhất”.

Bên cạnh đó, còn có một thách thức khác nảy sinh từ khía cạnh mối quan hệ giữa nhu cầu thị trường và năng lực của banker. Thị trường vốn Việt Nam còn non trẻ, đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa sẵn sàng trả phí hoặc trả phí chưa thỏa đáng cho dịch vụ IB. Trong khi đó, một số doanh nghiệp lớn của nhà nước có nhu cầu sử dụng dịch vụ IB thì đa phần đã loại bỏ banker Việt Nam ngay từ khâu chọn thầu.

Ông Quỳnh lý giải: “Đương nhiên doanh nghiệp có lý, vì banker Việt Nam chưa đủ năng lực để gánh vác nhiệm vụ mà họ giao. Một số dịch vụ đấu giá cổ phần lần đầu (IPO) hoặc niêm yết cổ phiếu cho các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, trong thời gian qua thực chất chỉ là thực hiện các thủ tục hành chính và pháp lý với mức phí rất nhỏ, chứ không phải là dịch vụ IPO theo đúng đặc trưng trên thị trường vốn”.

Thị trường chưa có nhu cầu cao về dịch vụ IB, nhưng các IB vẫn không thể trả lương thấp cho những banker có năng lực. Mặt khác, để xây dựng mối quan hệ với các nhà đầu tư, các IB phải đầu tư chi phí không nhỏ. Giống như sự hình thành một doanh nghiệp mới trong bất kỳ thị trường mới nào, đó chính là vòng xoáy “con gà - quả trứng” mà các nhà kinh doanh IB phải đối mặt.

Khó lâm vào cảnh phá sản

Không chỉ có những thách thức nói trên, mô hình kinh doanh IB còn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro.

Lợi nhuận của IB thông thường đến từ 3 hoạt động. Một là từ huy động vốn và M&A, IB được hưởng một khoản phí trên số tiền huy động được cho khách hàng. Hai là từ môi giới, IB được nhận một khoản phí để mua và bán cổ phiếu trên sàn chứng khoán và ba là từ đầu tư (IB có thể được hoặc mất những khoản tiền dựa trên giá trị khoản đầu tư. Hầu hết lợi nhuận của các IB nhỏ chỉ đến từ các hoạt động thuộc nhóm 1, nhưng các IB lớn đều tạo lợi nhuận trên cả 3 hoạt động. Theo đánh giá của các chuyên gia IB, phần lớn rủi ro thường đến từ hoạt động thứ 3 (hoạt động đầu tư), vì nó phụ thuộc rất nhiều vào biến động thị trường.

Tuy nhiên, còn có một rủi ro rất lớn mà các IB có thể phải đối mặt và được xem là bài học xương máu cho tất cả những nhà kinh doanh IB, đặc biệt là IB “thuần”.

Giả sử có một ngân hàng đầu tư A, có cùng mô hình với Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư đã tự xóa sổ trên bản đồ tài chính nước Mỹ năm 2008. Nếu tổng vốn của A là 34 (trong đó, vốn chủ sở hữu là 1, vốn vay từ ngân hàng, phát hành trái phiếu là 33) thì tài sản tương ứng là 34. Giả sử khi giá cổ phiếu của A giảm 50% (do tác động bất lợi của thị trường) thì phần tài sản chỉ còn 17, trong khi vốn vay quá lớn (33) đến hạn phải trả thì IB có thể mắc phải 2 rủi ro lớn.

3 CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

Ngân hàng đầu tư “thuần” được thành lập tại Việt Nam.

Ngân hàng đầu tư quốc tế đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam và lập liên doanh để thực hiện những nghiệp vụ ngân hàng đầu tư khác nhau.

Các công ty chứng khoán thành lập thêm ngân hàng đầu tư.

Rủi ro đầu tiên là IB này không tạo được lợi nhuận kế toán. Nhưng rủi ro lớn hơn nhiều là A không có tiền mặt (có thể mở rộng là vàng, kim cương, trái phiếu chính phủ có thể mua bán ngay lập tức để tạo ra tiền mặt) và cũng không thể huy động tiền mặt ngắn hạn (do không phải là ngân hàng thương mại), dẫn đến việc A có thể sụp đổ ngay lập tức. Đó chính là tình cảnh của nhiều IB Mỹ trong cơn bão tài chính năm 2008. Và bài học rút ra ở đây cho mô hình IB cũng là bài học cơ bản nhất, là “vay quá nhiều thì một là thắng trước, hai là thua trước”. Đây cũng chính là lý do nhiều ngân hàng đầu tư quốc tế ngày nay đang hướng đến mô hình ngân hàng đa năng.

Một vấn đề khác cũng khá quan trọng đối với IB (mà các IB thường ít kể ra) là câu hỏi: “Khi nào tôi có thể rút khỏi các khoản đầu tư với mức lợi nhuận mong đợi?”. Một chuyên gia IB tại TP.HCM cho biết: “Với các IB, ngoài câu hỏi nên đầu tư ở đâu, đầu tư như thế nào thì quan trọng là làm thế nào để giải tư. Đầu tư có lãi sổ sách mà không bán được cho ai thì cũng coi như thất bại, cho nên, các IB phải tự tìm lời giải tốt nhất cho lối thoát sau này. Và nếu một khoản đầu tư không được cân nhắc kỹ lưỡng thì lối thoát ấy có thể sẽ mang lại nhiều rủi ro không thể lường trước”.

Nói về rủi ro xấu nhất, nhiều chuyên gia IB cho rằng, mô hình IB Việt Nam sẽ khó lâm vào tình cảnh phá sản như các ngân hàng đầu tư độc lập tại Mỹ. Vì nhiều IB tại Việt Nam, dù được xem là “pháp nhân độc lập”, nhưng vẫn phải có một định chế tài chính “chống lưng” về mặt thanh khoản (vì các IB nằm trong công ty chứng khoán, ngân hàng đa năng). IB Việt Nam rõ ràng không tự bơi. Tính thanh khoản của thị trường vốn Việt Nam không cao và nguy cơ từ việc mất thanh khoản dẫn đến phá sản sẽ không cao như các thị trường phát triển như Mỹ.

Tiếp cận thị trường vốn quốc tế

ÔNG NGUYỄN NAM SƠN sáng lập và đồng điều hành Vietnam Capital Partners

Thời gian tới, các doanh nghiệp lớn Việt Nam chắc chắn sẽ huy động vốn nhiều hơn từ các thị trường quốc tế với 4 mục đích chính. Đó là 1) góp phần đa dạng hóa nguồn vốn, phòng khi thị trường vốn trong nước gặp khó; 2) thông qua đó, các đối tác quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp quản trị tốt hơn theo tiêu chuẩn toàn cầu; 3) doanh nghiệp có cơ hội phát triển thương hiệu trong nước và quốc tế và 4) chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh với các nước trong khu vực khi các rào cản thương mại được xóa bỏ.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới

Biz Tech

Nhân vật