3 kịch bản lãi suất 2026
Dù là kịch bản nào, việc lãi suất thiết lập một nền mới là điều khó tránh khỏi để cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Ảnh: TL.
Những ngày đầu tháng 2/2026, thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua đợt điều chỉnh mạnh nhất kể từ đầu năm do sự tác động của các yếu tố trong và ngoài nước. Trong đó, sự “bứt phá” của mặt bằng lãi suất liên ngân hàng (có thời điểm lên đến 17% với kỳ hạn qua đêm, mức cao nhất hơn 10 năm trở lại đây) khiến nhà đầu tư lo ngại việc thiếu hụt thanh khoản của hệ thống ngân hàng sẽ dẫn đến mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng mạnh trong thời gian tới.
Các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho rằng diễn biến này đến từ việc thiếu hụt nguồn vốn do chênh lệch tăng trưởng tín dụng và huy động. Tăng trưởng tín dụng bình quân trong các năm gần đây vào khoảng 13-15%, được xem là vừa phải với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và không gây ra áp lực thanh khoản cho hệ thống. Với mức tăng vượt trội của năm 2025, cao hơn mặt bằng những năm trước khoảng 5,5%, giả định các yếu tố khác không thay đổi thì sẽ cần khoảng 6 tháng để huy động, từ đó dần bù đắp phần thiếu hụt thanh khoản.
Thời gian qua, các ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động, nên mặc dù có độ trễ nhất định nhưng có thể kỳ vọng sau quý I/2026, mức chênh lệch giữa tín dụng và huy động sẽ cơ bản được bù đắp. Các yếu tố mùa vụ như nhu cầu tiền mặt dịp Tết và thuế hộ kinh doanh cũng góp phần tạo nên áp lực ngắn hạn.
![]() |
Đánh giá xu hướng cả năm 2026, ông Vũ Văn Bằng, Giám đốc Nguồn vốn và Đầu tư, Công ty Tài chính Mirae Asset Việt Nam, cho rằng lãi suất huy động đã và đang thiết lập một mặt bằng mới cho năm 2026. Dự báo lãi suất sẽ duy trì áp lực tăng trong cả năm 2026 do chịu tác động cộng hưởng từ 3 yếu tố trọng yếu.
Đầu tiên là áp lực từ mục tiêu tăng trưởng cao và mất cân đối giữa cho vay và huy động. Mục tiêu tăng trưởng GDP cao đi kèm với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao đang đặt hệ thống ngân hàng dưới áp lực huy động vốn quy mô lớn. Sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ huy động vốn đã đẩy lãi suất tăng mạnh từ cuối năm 2025, dự kiến sẽ tiếp tục kéo dài trong năm 2026. Các tổ chức tín dụng buộc phải duy trì mức lãi suất huy động hấp dẫn để mở rộng quy mô vốn đầu vào, đáp ứng nhu cầu giải ngân cho nền kinh tế.
Thứ 2 là áp lực tỉ giá và chuyển động chính sách tiền tệ quốc tế. Theo ông Bằng, trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới giảm tốc độ hạ lãi suất, kết hợp với xu hướng thắt chặt tiền tệ tại một số quốc gia (tâm điểm là Ngân hàng Trung ương Nhật), áp lực lên tỉ giá VND/USD được dự báo sẽ ngày càng tăng. Việc ổn định tỉ giá là một trong những ưu tiên hàng đầu của Ngân hàng Nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu ngoại tệ. Điều đó sẽ càng khó khăn hơn khi cơ quan này không còn quá nhiều công cụ điều tiết tỉ giá trong bối cảnh dự trữ ngoại hối đã thu hẹp đáng kể so với các năm trước đó.
“Trong kịch bản tỉ giá chịu áp lực cực đoan, việc điều chỉnh tăng lãi suất điều hành là một công cụ khả dĩ sẽ được cơ quan quản lý tính đến”, ông Bằng nhấn mạnh.
Thứ 3 là áp lực lạm phát chi phí đẩy. Lạm phát đang trở thành rủi ro hiện hữu khi giá nhiên liệu và hàng hóa thế giới bắt đầu chuyển sang chu kỳ tăng giá, tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và tiêu dùng nội địa. Khi chỉ số CPI có dấu hiệu tăng, mặt bằng lãi suất huy động cần được điều chỉnh linh hoạt nhằm đảm bảo nguyên tắc lãi suất thực dương, giúp bảo vệ giá trị đồng nội tệ mà còn duy trì tính hấp dẫn của kênh tiết kiệm đối với người gửi tiền.
Ông Vũ Việt Linh, Phó Giám đốc Phòng Phân tích Khách hàng Tổ chức, Công ty Chứng khoán Maybank Việt Nam, lại đưa ra một hệ quy chiếu lạc quan hơn khi so sánh với lịch sử. “Dù mặt bằng lãi suất hiện tại đã cao hơn khoảng 1-1,5% so với mức đáy của quý II/2025, nhưng nếu đặt trong hệ quy chiếu lịch sử, đặc biệt là giai đoạn trước dịch COVID-19, mức lãi suất này vẫn đang ở vùng hợp lý và tương đối rẻ”, ông Linh chia sẻ với NCĐT. Ông cho rằng việc lãi suất huy động có xu hướng nhích dần lên từ cuối năm 2025 là một thực tế hiện hữu. Tuy nhiên, đây không phải là tín hiệu đảo chiều của chính sách tiền tệ.
![]() |
Dựa trên quan điểm này, ông Linh đã phác thảo 3 kịch bản chính cho lãi suất năm 2026 gắn liền với các biến số kinh tế vĩ mô. Ở kịch bản 1 (cơ sở), lãi suất huy động dự kiến sẽ xác lập vùng đỉnh vào quý I hoặc quý II/2026, sau đó đi ngang và duy trì ổn định ở mức nền mới này. Đây là kịch bản giúp tạo đà cho tín dụng tăng tốc trở lại trong nửa cuối năm. “Trong kịch bản này, tăng trưởng GDP có thể đạt 8% trong năm 2026”, ông nói.
Ở kịch bản 2 (tích cực), nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất mạnh hơn dự kiến, giúp áp lực tỉ giá hạ nhiệt nhanh chóng, kết hợp với việc giải ngân đầu tư công vượt kế hoạch thì có cơ sở để kỳ vọng lãi suất sẽ điều chỉnh giảm mạnh hơn ngay từ quý II/2026. Đây sẽ là đòn bẩy quan trọng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP cao hơn ở mức 10%.
Ở kịch bản 3 (thách thức), trong trường hợp lạm phát thế giới kéo dài hoặc các xung đột địa chính trị tiếp tục gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, lãi suất có thể sẽ buộc phải neo ở mức cao suốt cả năm để đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.
Dù là kịch bản nào, việc lãi suất thiết lập một nền mới là điều khó tránh khỏi để cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Do đó, nhà đầu tư cần chuẩn bị tâm thế cho một giai đoạn mà hiệu quả sử dụng vốn và khả năng thích ứng với các biến số chi phí vốn sẽ quyết định sự thành bại trên thị trường.
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư
Tin cùng chuyên mục
-
Công Sang

English







