Hủy
Chuyên đề

CEO hạnh phúc

Hằng Nguyễn Thứ Năm | 12/02/2026 14:00

Trong báo cáo Hạnh phúc thế giới, lòng nhân ái và hạnh phúc cá nhân có sự gắn bó chặt chẽ. Ảnh: freepik.com

 
 
Hạnh phúc của lãnh đạo doanh nghiệp không còn đo bằng những con số trên bảng cân đối kế toán.

Hãy nhắm mắt lại và hình dung về một CEO điển hình. Có phải bạn đang thấy một người đàn ông mặc vest tối màu, nhíu mày trước hàng tá biểu đồ, tay cầm điện thoại và đang hò hét một cách đầy quyền lực? Đã đến lúc thay đổi hình ảnh đó đi. Năm 2026 đánh dấu một sự chuyển dịch âm thầm nhưng mạnh mẽ trong giới thượng tầng doanh nghiệp. Sau nhiều thập kỷ tôn thờ văn hóa “làm việc đến kiệt sức” (hustle culture), các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đang định nghĩa lại thành công. Và ngạc nhiên thay, định nghĩa mới về hạnh phúc của họ lại đa dạng đến bất ngờ. 

Từ “người chỉ huy cô độc” đến “người làm vườn hạnh phúc”

Trong một cuộc khảo sát gần đây của Harvard Business Review, các nhà lãnh đạo thừa nhận rằng cảm giác thỏa mãn nhất không còn đến từ việc đè bẹp đối thủ cạnh tranh. Thay vào đó, nó đến từ việc nhìn thấy nhân viên của mình phát triển.

Sự chuyển đổi từ văn hóa “biết tất cả” sang “học tất cả”. Đây chính là chìa khóa của niềm vui mới. Hãy tưởng tượng CEO như một người làm vườn. Trước đây, họ lo lắng về việc hái quả (lợi nhuận). Giờ đây, niềm vui của họ là tưới nước, bón phân và nhìn thấy cái cây (đội ngũ nhân sự) vươn cao. Cảm giác nhìn thấy một nhân viên trẻ, rụt rè trở thành một người quản lý tự tin mang lại một loại dopamine (hormone hạnh phúc) bền vững hơn nhiều so với việc chốt được một hợp đồng lớn.

Theo đó, thế giới kinh doanh đang chứng kiến một sự chuyển dịch sâu sắc, từ việc chỉ tập trung vào “hiệu quả kinh tế” sang hướng tới “hiệu quả nhân văn”, nơi con người, sức khỏe tinh thần và môi trường làm việc được đặt ở vị trí trung tâm. Doanh nghiệp nhiều quốc gia tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc hay các nước châu Âu đã sớm đưa khái niệm “happiness management” (quản trị hạnh phúc) và “well-being economy” (nền kinh tế phúc lợi) vào chiến lược phát triển. Các tập đoàn lớn như Google, Unilever, Toyota hay DBS Bank (Singapore) đều khẳng định: khi nhân viên hạnh phúc, doanh nghiệp mới thực sự bền vững.

Hãy quay lại với các lãnh đạo doanh nghiệp tại Việt Nam. Đối với thế hệ sáng lập, họ là những chiến binh bước ra từ thời kỳ thiếu thốn, tay trắng dựng nên những cơ sở sản xuất nhỏ bé, chấp nhận hy sinh giấc ngủ và thời gian cá nhân để đảm bảo nhà máy có thể hoạt động, đơn hàng được xuất đi. Trong thời kỳ kinh tế còn khó khăn, mọi niềm vui của họ gắn liền với khả năng kiểm soát tuyệt đối mọi khâu sản xuất. Tuy nhiên, nền kinh tế hội nhập đòi hỏi sự phức tạp hơn: quản trị rủi ro, đổi mới sáng tạo và nhân tài toàn cầu. 

“Đối với tôi, thành công là khi xây dựng những giá trị bền vững khiến người khác tin tưởng, gắn bó và tỏa sáng (believe, belong, bloom). Thành công là khi nhìn thấy thế hệ kế cận tự tin bước lên vị trí lãnh đạo với tinh thần táo bạo, tư duy toàn cầu và một trái tim tràn đầy nhiệt huyết, làm tốt hơn cả những gì chúng ta từng làm”, bà Nguyễn Thị Trà My, Tổng Giám đốc Tập đoàn PAN, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed), nói.

Đây là sự giải phóng lớn nhất: chuyển từ vai trò người kiểm soát sang vai trò kiến trúc sư trưởng và người truyền cảm hứng. Theo đó, hạnh phúc của CEO, tựu trung lại, đang trở nên “đời” hơn. Nó không nằm trên đỉnh núi cao chót vót đầy gió lạnh, mà nằm ngay trong những cuộc trò chuyện cởi mở, trong giấc ngủ ngon không mộng mị và trong niềm tin vào đội ngũ kế cận.

“Trong bối cảnh kinh doanh và công nghệ đang thay đổi liên tục, sự thích nghi là cực kỳ quan trọng cho sự tồn tại. Bằng cách xác định những khoảng cách, đánh giá rủi ro và cơ hội, đầu tư vào các lĩnh vực mang lại lợi thế cạnh tranh, chúng ta có thể đạt được sự phát triển và thành công lâu dài. Trong đó, nhân viên của chúng ta chính là nguồn lực dẫn dắt cho sự phát triển”, Tổng Giám đốc Biti’s Vưu Lệ Quyên chia sẻ. 

Quyền được “ngắt kết nối” và “tổn thương”

Có một nghịch lý thú vị: những người bận rộn nhất thế giới lại đang là những người tiên phong trong phong trào “sống chậm”. Đối với các CEO hiện đại, khả năng tắt điện thoại vào cuối tuần, đi leo núi hay đơn giản là nấu một bữa tối cho gia đình không phải là sự lười biếng. Đó là một chiến lược quản trị năng lượng. Hạnh phúc của lãnh đạo ngày nay là sự tự do về tâm trí. Đó là khoảnh khắc họ nhận ra rằng doanh nghiệp vẫn vận hành trơn tru ngay cả khi mình vắng mặt. Đó là minh chứng cao nhất cho năng lực lãnh đạo: xây dựng được một bộ máy tự chủ, thay vì một bộ máy phụ thuộc.

Đã qua rồi cái thời CEO phải là “siêu nhân” mình đồng da sắt, không bao giờ biết buồn hay biết sợ. Phong cách lãnh đạo “vulnerable leadership” (lãnh đạo bằng sự dễ tổn thương) đang lên ngôi. Các CEO tìm thấy sự nhẹ nhõm to lớn khi họ có thể bước vào phòng họp và nói: “Tôi không biết câu trả lời cho vấn đề này, các bạn nghĩ sao?”.
Sự trút bỏ gánh nặng “phải luôn đúng” mang lại sự giải phóng tinh thần to lớn. Khi chiếc mặt nạ quyền lực được gỡ xuống, họ được kết nối với nhân viên của mình như những con người thực thụ. Và sự kết nối chân thật (human connection) chính là liều thuốc chống lại sự cô đơn của người đứng đầu.

Có thể thấy, tại Việt Nam, sự trỗi dậy của phong trào sống chậm là phản ứng tất yếu của những người đã trải qua nhiều năm tăng trưởng “nóng”. Nền kinh tế đã tạo ra một thế hệ lãnh đạo tài ba, nhưng đồng thời cũng phải trả giá bằng sự kiệt sức và căng thẳng kéo dài. 

“Năm 2008-2010 tôi bỗng nhiên bị tắt lửa, không còn thấy niềm vui trong công việc. Tôi đã quyết định nghỉ, đi chơi 7 năm trước khi quay lại”, bà Phạm Minh Hương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Chứng khoán VNDIRECT, kể lại. “Có thời điểm mình đi làm, mình thành công nhưng khi nhìn lại, mình tự đặt câu hỏi liệu mình có niềm vui sâu thẳm bên trong không? Làm sao để tạo nhiệt huyết cho bản thân mỗi ngày?”, bà Hương chia sẻ. “Con người là cốt lõi của mọi sự chuyển đổi giữa thực tại biến động và chúng ta nên dành thời gian cho điều này”, bà nói thêm.

Niềm vui và hạnh phúc trong công việc lúc này không phải là việc lấp đầy lịch làm việc, mà là giữ lại khoảng trống để thở và suy ngẫm. Khác biệt với xu hướng thiền hay yoga của phương Tây, việc sống chậm của giới lãnh đạo Việt Nam thường gắn liền với văn hóa truyền thống và thiên nhiên.

Nhiều lãnh đạo hàng đầu, đặc biệt là trong ngành công nghệ và tài chính, đang tích cực tham gia các khóa thiền hoặc các lớp chánh niệm (mindfulness). Triết lý cân bằng cuộc sống và công việc đã được bà Minh Hương đưa vào xây dựng văn hóa của VNDIRECT. Bên cạnh hoạt động thiện nguyện và các ngày lễ, Công ty còn tổ chức buổi thiền trà cùng chư tăng ni để các thành viên trong công ty cùng chia sẻ khó khăn, niềm vui trong cuộc sống và tìm lại sự cân bằng.

Cũng với tinh thần như vậy, Tập đoàn FPT đã tổ chức chương trình “Một ngày an lành FPT” cho nhân viên. Thông qua bài pháp thoại “Nghệ thuật nuôi dưỡng thân tâm” từ thầy Đại Đồng, mọi người tham dự được lắng nghe về 4 loại “thức ăn” nuôi dưỡng thân và tâm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Khi biết chọn lọc và nuôi dưỡng từng “thức ăn” ấy bằng chánh niệm, con người sẽ tìm thấy sự an lành và vững chãi trong chính đời sống thường ngày. Sư thầy nhấn mạnh rằng, với người làm lãnh đạo, việc trau dồi 3 cái đức - đoạn đức, ân đức và trí đức - giúp họ giữ được sự vững chãi, dẫn dắt đội ngũ bằng tâm thế an lành và tỉnh thức.

Trong khi đó, phong trào các doanh nhân sở hữu hoặc đầu tư vào “farmstay” hay “nông nghiệp sạch” cũng nở rộ. Đây không chỉ là một khoản đầu tư, mà là một cách để những người làm kinh doanh được “tiếp đất” (grounding) sau nhiều ngày làm việc trên mây (chiến lược). Được tự tay trồng rau, chăm sóc vườn cây đã trở thành niềm vui giản dị, giúp tái tạo năng lượng hiệu quả hơn bất kỳ chuyến nghỉ dưỡng xa hoa nào.

“Tạo ra một thế giới hạnh phúc thông qua chuỗi thực phẩm hạnh phúc, đó là tầm nhìn mà Công ty Cổ phần Thực phẩm G.C (GC Food)  theo đuổi. Chúng tôi tin rằng, khi mỗi người đều tìm thấy niềm vui trong công việc và trong sản phẩm mình làm ra thì đó chính là khởi đầu của một thế giới hạnh phúc”, ông Nguyễn Văn Thứ, người được mệnh danh là “vua nha đam”, Chủ tịch Hội đồng Quản trị GC Food, cho biết. Từ vài hecta ban đầu, đến nay GC Food sở hữu hơn 250 ha vùng nguyên liệu nha đam và dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng lên 1.000 ha. “Người nông dân đã tin rằng, làm nông nghiệp có thể sống tốt, hạnh phúc và tự hào với sản phẩm của mình. Đó là điều tôi thấy hạnh phúc nhất, khi cùng họ - những người nông dân chịu thương chịu khó - xây dựng chuỗi cung ứng bền vững”, ông Thứ nói.

Ảnh: shutterstock.com
Một số doanh nhân chọn di sản là nâng cao thương hiệu và văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Ảnh: shutterstock.com

Chắc chắn, trong xu hướng sống chậm, giá trị gia đình tuyệt đối có mặt trong hạnh phúc của doanh nhân. Việc sắp xếp một “buổi tối không thiết bị điện tử” (digital detox evening) với gia đình hay dành toàn bộ cuối tuần cho con cái được coi là một ưu tiên chiến lược. Nó củng cố nền tảng tinh thần và tạo ra một điểm tựa vững chắc để họ quay lại với công việc. Tỉ phú Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Vingroup, cũng từng chia sẻ, gia đình là nhân tố giúp cho bản thân cân bằng trong cuộc sống. Ông cho rằng: “Khi đó không phải là tiền mình có bao nhiêu, mà đội ngũ xung quanh mình: đầu tiên là gia đình, sau đó là anh em, bạn bè, là chỗ tình nghĩa để chia sẻ, để khỏi cô đơn, cô độc”.

Phong trào này không hề mâu thuẫn với tham vọng tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngược lại, nó được xem là “lợi thế cạnh tranh mới”. Lãnh đạo nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng, để đưa doanh nghiệp vượt khỏi biên giới và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, họ cần chất lượng thay vì số lượng. Họ đang chuyển từ tầm nhìn mùa vụ (tăng trưởng quý) sang tầm nhìn thế hệ (di sản để lại). Tầm nhìn xa đó đòi hỏi sự tĩnh tâm, không phải sự vội vã.

Di sản quan trọng hơn tiền tệ

Trên thế giới, theo khảo sát “The Why of Wealth” của Boston Private, việc sở hữu khối tài sản từ 1-20 triệu USD sẽ đem đến nhiều thứ giúp con người hạnh phúc như sự bình tâm, cảm giác thành công và được sống theo cách mình muốn. Ai có năng lực tự kiếm ra khối tài sản đó sẽ hạnh phúc hơn. Đặc biệt, những nhà nghiên cứu phát hiện rằng, cho đi là cách để có hạnh phúc. Chẳng hạn, các tỉ phú như Bill Gates, Warren Buffett cũng tiếp bước Carnegie khi đăng ký vào The Giving Pledge như một cam kết đóng góp phần lớn tài sản trước và sau khi chết vào các hoạt động từ thiện. 

Ảnh: shutterstock.com
Tại Việt Nam, sự trỗi dậy của phong trào sống chậm là phản ứng tất yếu của những người đã trải qua nhiều năm tăng trưởng “nóng”. Ảnh: shutterstock.com

Ở Việt Nam tuy chưa có tổ chức có vai trò kêu gọi tương tự The Giving Pledge nhưng cũng đã ghi nhận những tấm gương doanh nhân hào phóng. Chẳng hạn, tỉ phú Phạm Nhật Vượng 2 lần được vinh danh “Anh hùng từ thiện châu Á”. Hay vợ chồng nhà đồng sáng lập Golf Long Thành là ông Lê Văn Kiểm và bà Trần Cẩm Nhung cũng từng được vinh danh “Anh hùng từ thiện” vì những hoạt động thiện nguyện của mình...

Trong báo cáo Hạnh phúc thế giới, lòng nhân ái và hạnh phúc cá nhân có sự gắn bó chặt chẽ. Phúc lợi từ các hành vi nhân ái (cho cả người cho và người nhận) tăng lên khi chúng diễn ra trong bối cảnh có kết nối quan tâm, sự lựa chọn và tác động tích cực rõ ràng. 

Nếu thập niên 1990 là giai đoạn các doanh nhân Việt Nam chứng tỏ khả năng xây dựng cơ đồ thì thập niên 2020 là giai đoạn họ khẳng định tầm vóc của sự cho đi. Đối với nhiều tỉ phú và doanh nhân hàng đầu Việt Nam, việc tích lũy tài sản cá nhân giờ đây đã lùi xuống một bước, nhường chỗ cho mối quan tâm lớn hơn: di sản (legacy) - tác động xã hội họ để lại sẽ kéo dài bao lâu sau khi họ rời khỏi thương trường?

Cùng với xu hướng phát triển bền vững nở rộ, ngày càng nhiều lãnh đạo doanh nghiệp thấu hiểu tinh thần trách nhiệm xã hội. Nếu chỉ quan tâm đến việc tối đa hóa lợi nhuận, họ sẽ không theo đuổi việc xây dựng một doanh nghiệp hạnh phúc. “Nhân viên hài lòng và hạnh phúc sẽ có động lực phục vụ khách hàng tốt hơn. Nhân viên hạnh phúc thì khách hàng hạnh phúc, tiếp đến là doanh nghiệp hạnh phúc”, bà Tiêu Yến Trinh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kết nối Nhân Tài (Talentnet), khẳng định.

Đây không chỉ là lòng tốt nhất thời, mà là một xu hướng mang tính chiến lược, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ “sống còn” sang “thịnh vượng có trách nhiệm”. Sự dịch chuyển từ “làm giàu cá nhân” đến “phụng sự cộng đồng” bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về vai trò xã hội của người giàu. Thế hệ doanh nhân đầu tiên đã xây dựng công ty từ con số không và giờ đây, họ đang sử dụng chính năng lực tổ chức, quản trị của mình để giải quyết các vấn đề xã hội.

Gắn bó với Thế Giới Di Động từ những ngày đầu thành lập đến nay, ông Nguyễn Đức Tài cho rằng, con người khi làm việc gì cũng chỉ có 2 động lực: một là vì tiền, hai là vì niềm vui. Sẽ có giai đoạn chỉ làm vì tiền, rồi sau một thời gian, công việc có thể được thực hiện bằng sự kết hợp giữa mục đích vì tiền và vì niềm vui. Đến một lúc nào đó, sẽ bước được qua giai đoạn làm vì tiền và chỉ còn làm vì niềm vui - yếu tố mang lại động lực mà theo ông Tài là “rất khủng khiếp”. Thực sự những mục tiêu mà ông đặt ra rất tham vọng: doanh thu riêng chuỗi bán lẻ Bách Hóa Xanh đạt 10 tỉ USD vào năm 2030. Nhưng còn lớn hơn thế, con số này đặt ra như định lượng mục tiêu chiếm lĩnh thị trường bán lẻ thực phẩm tại Việt Nam trước các đối thủ nước ngoài, chứ không phải là tài sản cá nhân.

Xu hướng để lại di sản của các doanh nhân, tỉ phú Việt Nam thường tập trung mạnh mẽ vào 3 lĩnh vực cốt lõi, phản ánh các nhu cầu cấp thiết của đất nước. Giáo dục là lĩnh vực được đầu tư lớn nhất. Di sản ở đây không chỉ là xây trường, mà là nâng cấp chất lượng giáo dục, đưa Việt Nam bắt kịp chuẩn mực quốc tế.

Nói về hoạt động kinh doanh đa ngành, trong đó có giáo dục, tỉ phú Phạm Nhật Vượng từng chia sẻ: “Cứ cái gì tốt cho xã hội, tốt cho nhiều người và chúng tôi thấy mình có đủ năng lực thì chúng tôi sẽ làm”. Trong giai đoạn 2025-2030, nhà sáng lập Vingroup đã cam kết tài trợ cho VinUni 9.300 tỉ đồng và đặt ra mục tiêu lọt vào Top 100 trường đại học xuất sắc toàn cầu. Giáo sư Yap-Peng Tan, tân Hiệu trưởng VinUni, cho biết, nhà trường tập trung vào các chủ đề liên ngành thuộc 3 trụ cột: con người - trái đất - thịnh vượng (people - planet - prosperity), vốn mang ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam và có tầm ảnh hưởng toàn cầu.

“Tôi chỉ có một cô con gái ruột, nhưng có tới 50 con nuôi, đó là những em bé dân tộc thiểu số ở miền núi,  mồ côi cha mẹ, cuộc sống vô cùng khó khăn. Thành công của tôi không được đo bằng những con số lợi nhuận, mà bằng những giá trị bền vững tôi có thể để lại cho thế hệ mai sau. Tôi mong mình luôn khỏe mạnh để giúp những đứa trẻ yếu thế có cơ hội đến trường, được nuôi dưỡng ước mơ và truyền cảm hứng để các em trở thành những con người có ích cho xã hội”, bà Trà My của PAN chia sẻ.

Một số doanh nhân chọn di sản là nâng cao thương hiệu và văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Họ tài trợ cho các dự án bảo tồn di sản văn hóa hay đầu tư vào các dự án thể thao, nghệ thuật mang tính biểu tượng, giúp nâng cao niềm tự hào và vị thế quốc gia.

Với mục tiêu này, bà Lưu Bảo Hương, Chủ tịch GG Corporation, khởi xướng dự án Living Heritage, hướng tới việc tôn vinh những cá nhân Việt Nam có thành tựu và câu chuyện truyền cảm hứng trên trường quốc tế, đồng thời kết nối họ gần hơn với cộng đồng trong nước. Living Heritage dần mở rộng thành chuỗi hoạt động chuyên môn và sự kiện nghệ thuật, nơi tri thức và cảm xúc giao thoa. “Nhắc đến những người gốc Việt nổi trội không phải để tôn vinh cá nhân, mà để người Việt và cộng đồng quốc tế có thể nhìn thấy những “hành trình thật”, rằng nhiều thế hệ người Việt bước ra thế giới, học tập, làm việc, đảm nhiệm những nhiệm vụ phức tạp và điều đó hoàn toàn nằm trong khả năng”, bà Hương nói.

Niềm tự hào mang tên “Thương hiệu quốc gia”

Trong nhiều nền kinh tế phát triển, động lực chính của giới doanh nhân thường xoay quanh đổi mới công nghệ, tối đa hóa giá trị cổ đông và cạnh tranh thị phần. Tại Việt Nam, một nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ, động lực đó lại có thêm một tầng ý nghĩa sâu sắc: niềm tự hào quốc gia (national pride).

Đối với thế hệ doanh nhân đã cùng đất nước chuyển mình từ nghèo khó lên tầm cao khu vực, hạnh phúc cá nhân không còn chỉ là việc sở hữu du thuyền hay biệt thự. Nó là khoảnh khắc chứng kiến sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu của mình được tôn vinh trên bản đồ thế giới. Đây là một xu hướng cảm xúc mạnh mẽ, nơi niềm vui riêng tư được hòa quyện vào vinh quang chung của dân tộc.

Trong ngày công bố kế hoạch niêm yết Masan Consumer, tỉ phú Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Masan, cho biết, hiện 98% hộ gia đình Việt Nam sử dụng các sản phẩm Masan, là nguồn động lực lớn cho toàn bộ hành trình phát triển của Tập đoàn. Tiếp theo là vị thế dẫn đầu ngành hàng của nhiều thương hiệu thuộc Masan Consumer được ông Quang so sánh như Apple trong ngành điện thoại. Chủ tịch Masan cũng chia sẻ về 3 định hướng lớn cho “viên kim cương gia bảo” của mình. Đó là đưa giá trị và ẩm thực Việt ra thế giới, thúc đẩy công nghệ để tăng tốc đổi mới và đẩy mạnh xu hướng cao cấp hóa nhằm nâng tầm trải nghiệm tiêu dùng.

Trong khi đó, CEO Lê Hồng Minh của kỳ lân VNG từng viết trong dịp Công ty kỷ niệm sinh nhật lần thứ 20: “Chúng ta mơ ước sẽ tạo ra những sản phẩm cho hàng chục triệu người dùng và cùng nhau tạo dựng một công ty internet thành công”.

Tất nhiên, ở chiều ngược lại, trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc một thương hiệu được nhận diện là “Thương hiệu Việt chất lượng cao” mang lại giá trị cảm xúc to lớn. Các doanh nhân nhận ra rằng, đây không chỉ là lòng yêu nước, mà là một chiến lược xây dựng thương hiệu (branding strategy) hiệu quả nhất.

Đối với các tập đoàn công nghệ lớn, hạnh phúc là khi thấy sản phẩm “Make in Vietnam” không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu và cạnh tranh sòng phẳng tại các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu. Sự thỏa mãn khi một sản phẩm Việt được công nhận về đổi mới và chất lượng là nguồn năng lượng vô tận.

 Niềm tự hào giúp các nhà lãnh đạo Việt dễ dàng hơn trong việc xây dựng cầu nối văn hóa và thương mại. Không chỉ bán sản phẩm, họ đang bán câu chuyện về sự trỗi dậy của Việt Nam. Sự đón nhận của quốc tế đối với câu chuyện này chính là nguồn hạnh phúc lớn nhất.

Ảnh: shutterstock.com
Xu hướng để lại di sản của các doanh nhân, tỉ phú Việt Nam thường tập trung mạnh mẽ vào 3 lĩnh vực cốt lõi. Ảnh: shutterstock.com

Niềm tự hào quốc gia cũng trở thành một công cụ quản lý cảm xúc mạnh mẽ. Trong những thời điểm khó khăn (như các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hay đại dịch), động lực về lợi nhuận có thể lung lay. Nhưng trách nhiệm và niềm vinh dự mang tên quốc gia lại trở thành bệ phóng tinh thần giúp họ vượt qua. Khi người lãnh đạo thể hiện rõ ràng niềm tự hào và mục đích vượt lên trên tiền bạc, nó lan tỏa như một văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ, thu hút và giữ chân những người tài năng có chung lý tưởng.

Niềm tự hào quốc gia không chỉ là một cảm xúc, đó là sự thỏa mãn sâu sắc nhất khi biết rằng sự hy sinh, làm việc không mệt mỏi của mình không chỉ làm giàu cho cá nhân mà còn góp phần củng cố vị thế của Việt Nam trên trường thế giới.

“Chúng tôi bắt đầu hành trình doanh nghiệp cách đây hơn 30 năm với một ước vọng giản dị: góp phần phát triển đất nước bằng những giá trị thực chất. Hôm nay, ước vọng ấy lớn hơn, là đưa Việt Nam trở thành trung tâm kinh tế khu vực, một đất nước hùng cường, nhân văn, có vị thế toàn cầu. Khát vọng của chúng tôi không chỉ là tăng trưởng, mà là phụng sự”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo, hiện là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Sovico, đồng thời là người sáng lập và điều hành Hãng hàng không Vietjet Air, cho biết.


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới