Loài chim mang dòng máu Dodo giữa lòng Côn Đảo
Vào khoảng năm 1662, con chim Dodo cuối cùng đã ra đi trên đảo Mauritius (nằm ở khu vực phía Tây Nam Ấn Độ Dương), khép lại một trong những bi kịch tuyệt chủng nổi tiếng nhất lịch sử loài người. Nhưng dòng họ của chim Dodo (Columbidae) chưa hoàn toàn biến mất. Tại những khu rừng nguyên sinh của Vườn Quốc gia Côn Đảo (thuộc TP.HCM), loài chim mang bộ gen gần nhất với chim Dodo vẫn đang sinh sống.
Bồ câu Nicobar (Caloenas nicobarica) được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ IUCN, nhưng đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về loài chim này trừ chuyên đề khảo sát cấp cơ sở. Do số lượng cá thể chim ngoài tự nhiên rất ít, khu vực phân bố bị thu hẹp và việc từng đối mặt với nguy cơ săn bắt, bồ câu Nicobar hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt bởi Ban Quản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo trong một nỗ lực nhằm duy trì và phục hồi quần thể quý hiếm này.
Trái ngược với những đàn bồ câu đô thị sậm màu, bồ câu Nicobar lại sở hữu một diện mạo hoàn toàn đối lập. Trải qua hàng triệu năm tiến hóa cô lập trên những hòn đảo nhiệt đới, nơi hoàn toàn vắng bóng các loài ăn thịt tự nhiên dưới mặt đất, loài chim này đã đi theo một hướng tiến hóa đặc biệt. Giữa không gian u tối của những khu rừng nhiệt đới, bộ lông lộng lẫy của bồ câu Nicobar như một áo phản quang, giúp chúng tận dụng từng vệt nắng để bắt sáng, trở thành tín hiệu thị giác quan trọng giúp nhận diện đồng loại và thu hút bạn tình.
![]() |
Chim bồ cầu Nicobar mái luôn ưu ái những con trống sở hữu lớp lông rực rỡ nhất, bởi độ óng ánh này là minh chứng cho một thể trạng khỏe mạnh, ít ký sinh trùng và việc cá thể đực đó mang nguồn gen vượt trội. Nhưng thực chất, bộ lông của bồ câu Nicobar không sở hữu các sắc tố màu rực rỡ này. Vẻ đẹp của nó đến từ cấu trúc nano đặc biệt trên từng sợi lông, có vô số gờ siêu nhỏ kết hợp cùng các lớp hạt melanosome xếp tầng. Cấu trúc này hoạt động như những màng giao thoa ánh sáng tí hon. Khi ánh nắng chiếu vào, chúng tán xạ và phản xạ lại các bước sóng, tạo nên sắc xanh lục, xanh lam và ánh đồng biến chuyển theo từng góc nhìn. Đặc biệt hơn, bồ câu Nicobar có khả năng nhìn thấy dải ánh sáng tử ngoại (UV), giúp cho bộ lông của chúng trong mắt đồng loại thậm chí còn lung linh và choáng ngợp hơn rất nhiều so với những gì mắt người có thể cảm nhận.
Hằng năm, bồ câu Nicobar thường di cư đến các hòn đảo nhỏ thuộc Côn Đảo trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8. Chúng lựa chọn những cánh rừng yên tĩnh, vắng bóng người để kiếm ăn dưới thảm lá mục và làm tổ trên các cành cây cao từ 5-10 m. Thế nhưng, dù chọn những hòn đảo biệt lập làm nơi sinh sản, bồ câu Nicobar vẫn đứng trước nguy cơ suy giảm quần thể nghiêm trọng. Với đặc tính chỉ đẻ duy nhất một trứng mỗi lứa, khả năng phục hồi đàn của chúng rất chậm. Tỷ lệ sinh sản thấp này, cùng nạn săn bắt lấy lông, mối đe dọa từ các loài ăn thịt xuất hiện trong những năm gần đây và áp lực từ việc thu hẹp môi trường sinh sống, đang đẩy chúng vào tình trạng đáng báo động.
Sự mong manh của quần thể bồ câu Nicobar càng thể hiện rõ qua việc chúng khó sinh sản trong môi trường nhân tạo. Minh chứng là vào năm 2009, ông Phạm Thành Đúng, Trưởng Phòng Quản lý Khoa học, Vườn Quốc gia Côn Đảo, từng nuôi thành công các cá thể con non cứu hộ ngoài tự nhiên cho đến khi trưởng thành và đẻ trứng. Dẫu vậy, những quả trứng ấy không nở ra con non mà cũng không rõ nguyên nhân. Cuối cùng, toàn bộ số bồ câu Nicobar này đều được thả về với thiên nhiên.
Tương tự như loài rùa biển, sự xuất hiện của bồ câu Nicobar chính là chứng nhận về sự nguyên sơ của hệ sinh thái Côn Đảo. Lối sống ẩn dật dưới thảm thực vật đáy rừng của loài này giữ vai trò thiết yếu trong việc gieo trồng rừng. Nhờ chiếc mề khỏe, loài chim này có thể tiêu hóa và nghiền nát các hạt cây vỏ cứng, giúp phát tán và tái tạo những cánh rừng nhiệt đới trên đảo. Vì vậy, việc bảo tồn loài chim này tại Côn Đảo ngoài môi trường thiên nhiên không chỉ có ý nghĩa bảo vệ một sinh vật đẹp mắt, mà còn mang tính cấp thiết trong việc giữ gìn một mảnh ghép sinh thái của thiên nhiên Việt Nam.
Dưới góc nhìn kinh tế, các tập đoàn nghỉ dưỡng xa xỉ như Six Senses không chỉ bán dịch vụ cao cấp, mà bán trải nghiệm thiên nhiên nguyên bản cho du khách. Định giá tài sản nghỉ dưỡng vì thế phụ thuộc trực tiếp vào độ vẹn toàn của môi trường xung quanh. Sự hiện diện của các loài sinh vật nguy cấp như bồ câu Nicobar hay rùa biển chính là thỏi nam châm thu hút dòng vốn đầu tư xanh, nguồn tài trợ từ các quỹ bảo tồn quốc tế và đặc biệt là các du khách sẵn sàng chi trả hàng ngàn USD cho mỗi đêm nghỉ ở những nơi có mô hình du lịch bền vững.
Do đó, trên hành trình tạo nên mô hình du lịch bền vững, có lẽ việc thắt chặt quản lý, giới hạn quy mô tour và kiểm soát lượng khách đến các hòn đảo sinh sản trọng điểm như Hòn Tre Lớn hay Hòn Cau vào mùa làm tổ có thể khiến địa phương mất đi nguồn thu du lịch ngắn hạn từ dòng khách đại trà. Nhưng dưới góc độ phân tích kinh tế du lịch, đây là một khoản chi phí hoàn toàn xứng đáng. Đổi lại việc chấp nhận sụt giảm doanh thu tạm thời là khả năng bảo tồn nguyên vẹn giá trị thương hiệu dài hạn, giúp Côn Đảo tránh rơi vào tình trạng bội thực du lịch.
Việc giữ được cánh chim bồ câu Nicobar tự do chao lượn trên sóng nước Côn Đảo không dừng lại ở câu chuyện tình yêu thiên nhiên hay trách nhiệm sinh học, mà chính là chiến lược bảo tồn nguồn vốn cốt lõi cho một nền kinh tế du lịch sinh thái bền vững, khác biệt và cao cấp của Côn Đảo trong tương lai.
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư
Tin cùng chuyên mục
Tin nổi bật trong ngày
Tin mới
-
Juliet Bảo Ngọc Doling

English






