Đi tìm đòn bẩy cho thị trường vật liệu xây không nung
Tuy nhiên, để sản xuất một tỷ viên gạch đất sét nung quy tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1,5 triệu m3 đất sét, tương đương 75ha đất nông nghiệp (độ sâu khai thác là 2m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO2 - tác nhân gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường.
Như vậy, đến năm 2020, nếu đáp ứng nhu cầu vật liệu xây hoàn toàn bằng gạch đất sét nung sẽ tiêu tốn mỗi năm khoảng 57-60 triệu m3 đất sét, tương đương 2.800 đến 3.000ha đất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia; đồng thời tiêu tốn 5,3-5,6 triệu tấn than và thải ra môi trường khoảng 17 triệu tấn khí CO2.
Bức tranh được phác họa từ những con số trên chính là lời thúc giục các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng chọn vật liệu không nung là lựa chọn thông minh, đúng đắn,
Hiện nhiều nước trên thế giới đã loại bỏ vật liệu nung và thay thế bằng vật liệu xây không nung. Tại Việt Nam, các chuyên gia trong ngành ghi nhận việc sử dụng vật liệu xây không nung sẽ hạn chế được các tác động bất lợi nêu trên, đem lại hiệu quả tích cực về các mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường như: quá trình sản xuất vật liệu này giúp tiêu thụ một phần đáng kể phế thải các ngành khác như nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng...giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, đồng thời tiết kiệm các chi phí xử lý phế thải, giải phóng được mặt bằng kho bãi chứa phế thải.
Sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung nhằm thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội.
Đặc biệt, các loại vật liệu xây không nung đã nhanh chóng chứng minh được một số ưu điểm nổi bật như: nhẹ - giúp giảm tải trọng công trình, do đó tiết kiệm chi phí làm móng và khung chịu lực, đẩy nhanh tiến độ thi công; tính cách nhiệt cao, góp phần tích cực vào chương trình tiết kiệm năng lượng. Bởi vậy, Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 về Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu phát triển dòng sản phẩm này.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam thừa nhận rằng mặc dù đã có các tiêu chí rất rõ ràng nhưng trong quá trình thực hiện lộ trình này vẫn nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm được tháo gỡ.
Do các nhà máy sản xuất bêtông nhẹ ra đời vào lúc kinh tế nước gặp khó khăn, lạm phát cao, đầu tư công bị cắt giảm, thị trường bất động sản trầm lắng, chi phí tài chính lớn... khiến dòng sản phẩm này tiêu thụ chậm, hàng tồn kho nhiều dẫn đến sản xuất bị ngừng trệ.
Thống kê tình hình sản xuất và tiêu thụ một số loại sản phẩm vật liệu xây không nung trong năm 2011 cho thấy đa số các dây chuyền gạch block đã sản xuất hết công suất nhưng sản lượng tiêu thụ chỉ đạt khoảng 85-90% lượng sản xuất. Cùng đó, gạch bêtông nhẹ, bêtông bọt, cũng chỉ có mức tiêu thụ vào khoảng 50-60% sản lượng. Tấm tường thạch cao, tấm 3D cùng một số chủng loại sản phẩm khác cũng rơi vào tình trạng ế ẩm tương tự...
Nguyên nhân được chỉ ra là do các nhà đầu tư còn thiếu kinh nghiệm, nguồn vốn lại hạn chế nên phần lớn chỉ nhập hệ thống dây chuyền công nghệ với trình độ trung bình, thiếu đồng bộ. Công tác chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sản xuất và tiếp thu công nghệ chưa tốt; cộng với đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật chưa được đào tạo chu đáo... nên các nhà máy phải vừa sản xuất vừa điều chỉnh, khắc phục các mặt yếu để ổn định sản xuất.
Khó khăn càng dồn đến với doanh nghiệp khi lãi suất vay vốn để đầu tư vào sản xuất tăng ở mức cao (quanh mốc 20%/năm) trong khi thủ tục vay vốn tại các ngân hàng thương mại cũng rất khó khăn. Những yếu tố này khiến giá thành sản xuất tăng.
Điển hình như giá thành sản xuất bêtông khí chưng áp AAC hiện tại cao hơn so với gạch đất sét nung khoảng 20-25% do chi phí sản xuất cao hơn. Như vậy, khó khuyến khích phát triển vật liệu xây không nung.Trong khi, nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây không nung vẫn chưa được hưởng các ưu đãi theo quy định tại Quyết định 567 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.
Mặt khác, nhận thức của các nhà đầu tư, tư vấn thiết kế, nhà thầu và người tiêu dùng về dòng sản phẩm này chưa đầy đủ; thậm chí thiếu hiểu biết về vật liệu xây không nung nói riêng và bê tông khí nói chung.
Chương trình 567 với mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015 đã được xã hội và các doanh nghiệp rất quan tâm. Chỉ tính ba chủng loại sản phẩm chính là gạch ximăng-cốt liệu, gạch bêtông khí chưng áp và gạch bêtông bọt thì tổng công suất đầu tư đã đạt 4,2 tỷ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm từ 16-17 % so với tổng sản lượng vật liệu xây năm 2011, ước đạt 25 tỷ viên. Trong khi đó, cuối năm 2008, sản lượng vật liệu xây không nung mới chỉ chiếm 8-8,5%. Điều này cho thấy các doanh nghiệp đã chủ động chọn hướng đi mới.
Tuy nhiên, đòn bẩy thực sự cho thị trường chính là Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 16/4/2012 về tăng cường sử dụng vật liệu không nung, hạn chế sử dụng gạch đất sét nung của Chính phủ. Cùng với các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật đã được Bộ Xây dựng ban hành, các doanh nghiệp kỳ vọng đây sẽ là lối mở để vật liệu không nung tiến quân, trước tiên là vào các công trình sử dụng vốn ngân sách.
Với sự hỗ trợ của các cơ chế chính sách, cùng những ủng hộ tích cực từ xã hội, hy vọng thời gian tới các doanh nghiệp sản xuất vật liệu không nung có thể toàn tâm toàn ý tập trung xúc tiến thương mại và quảng bá kích cầu sản phẩm.
Nguồn VietnamPlus
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư

English





