Hủy
Tạp chí số 897

Vốn Việt xuất ngoại

Vũ Hoài Thứ Hai | 28/09/2026 13:51

Chiến lược vươn ra toàn cầu của khối doanh nghiệp được củng cố bởi sự cải thiện rõ rệt về hiệu quả vận hành và năng lực sản xuất trong nước. Ảnh: shutterstock.com

 
 
Dòng vốn doanh nghiệp Việt vươn ra toàn cầu tăng gấp 5 lần nhờ bệ đỡ nội lực.

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đang ghi nhận bước chuyển biến lớn về chất, chuyển dịch từ việc tìm kiếm thị trường đơn thuần sang chiến lược chủ động mở rộng dư địa tăng trưởng và định vị lại chuỗi giá trị. 

Bệ phóng từ chu kỳ sản xuất nội địa. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, 8 tháng đầu năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã rót vốn vào 113 dự án mới và thực hiện 29 lượt điều chỉnh vốn. Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đạt hơn 2,6 tỷ USD, tăng gấp khoảng 5 lần so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến hết tháng 8/2026, Việt Nam sở hữu 2.080 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng quy mô vốn vượt 26,4 tỷ USD. 

“Đây là tín hiệu tích cực cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam và cả cách thức triển khai. Điều này cho thấy nguồn lực của Việt Nam đã và đang trên đà phát triển để vươn tầm ra thế giới”, ông Lê Văn Hà, Giám đốc Trung tâm Kinh doanh thuộc Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, nhận định. 

Chiến lược vươn ra toàn cầu của khối doanh nghiệp được củng cố bởi sự cải thiện rõ rệt về hiệu quả vận hành và năng lực sản xuất trong nước. Báo cáo chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam do S&P Global công bố cho thấy chỉ số PMI tháng 8/2026 đạt 53,3 điểm, tăng từ mức 52,9 điểm của tháng 7, đánh dấu tháng thứ 14 liên tiếp nằm trên ngưỡng 50 điểm. Tốc độ tăng trưởng sản lượng của ngành sản xuất chạm mức nhanh nhất trong hơn 2 năm, cùng với số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh nhất kể từ tháng 10 năm trước. 

“Tăng trưởng ngành sản xuất của Việt Nam bắt đầu mạnh lên ở thời điểm giữa quý III của năm. Tính đến tháng 8, tăng trưởng sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới không chỉ lấy lại tốc độ đáng chú ý được ghi nhận vào đầu năm, mà còn vượt xa hơn. Khi áp lực giá cả và nguồn cung đã giảm, các nhà sản xuất đã có thể tiếp nhận đơn đặt hàng mới và đáp ứng yêu cầu đơn đặt hàng thông qua tăng sản lượng”, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, cho biết. 

Năng lực mở rộng sản lượng và chủ động kiểm soát chi phí đã tạo ra nguồn lực tài chính dồi dào, giúp khối sản xuất chuẩn bị nền tảng quản trị vững vàng trước khi bước vào các thị trường quốc tế. 

Trợ lực chính sách và khẩu vị rủi ro có tính toán. Đà mở rộng của khu vực doanh nghiệp cũng nhận được sự hỗ trợ từ chính sách vĩ mô. Tháng 4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030, hướng đến mục tiêu đào tạo tối thiểu 10.000 lượt doanh nghiệp về đầu tư, kinh doanh toàn cầu và tư vấn xây dựng kế hoạch mở rộng cho 1.000 doanh nghiệp vào năm 2030. 

Dù phải đối mặt với rào cản pháp lý và thể chế, các doanh nghiệp trong nước đang dần nâng cao khả năng chấp nhận rủi ro khi bước ra khỏi thị trường nội địa. “Điều tích cực nhất là doanh nghiệp Việt Nam đã chấp nhận rủi ro hơn và nâng tầm lớn mạnh hơn khi ra nước ngoài đầu tư”, ông Hà nhấn mạnh. 

Dữ liệu lũy kế đến tháng 8/2026 của Cục Đầu tư nước ngoài phản ánh dòng vốn Việt Nam đã hiện diện tại 88 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, dòng tiền tập trung lớn nhất vào các thị trường láng giềng: Lào dẫn đầu với hơn 7 tỷ USD (chiếm 26,7% tổng vốn), Campuchia đứng thứ 2 với hơn 3,3 tỷ USD (12,8%) và Venezuela đạt trên 1,8 tỷ USD (6,9%). 

“Doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng ưu tiên lựa chọn những thị trường trong tầm kiểm soát và có nét tương đồng về mặt thể chế. Đây được xem là chiến lược phòng thủ thông minh nhằm bảo vệ an toàn dòng vốn trước các biến động địa chính trị phức tạp”, ông Hà nhìn nhận. 

Cơ cấu phân bổ vốn cho thấy chiều sâu chiến lược khi dòng vốn đã phủ rộng ở 18/22 ngành kinh tế, tập trung nhiều nhất vào khai khoáng, nông - lâm - thủy sản và công nghệ thông tin - truyền thông. Việc thiết lập hạ tầng kho bãi và logistics tại thị trường tiêu thụ cho phép doanh nghiệp chủ động vận hành chuỗi cung ứng và đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng. 

Ở lĩnh vực dịch vụ và vận tải, mô hình mở rộng hướng đến việc tối ưu hóa dòng tiền doanh nghiệp. “Đối với ngành vận tải, lợi thế nằm ở khả năng tạo ra dòng tiền quay vòng nhanh để tái đầu tư. Ví dụ điển hình là việc GSM triển khai ứng dụng Green SM Platform tại Indonesia và Philippines, vừa thiết lập mạng lưới vừa tạo nguồn thu tức thì để phục vụ vận hành liên tục”, ông Hà phân tích. 

Trong khi đó, ở mảng nông nghiệp, các địa bàn như Lào mang lại lợi thế về thổ nhưỡng và quy mô quỹ đất tập trung, giúp doanh nghiệp phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên diện rộng - bài toán vốn bị giới hạn bởi quỹ đất trong nước. 

Sự kết hợp giữa nội lực sản xuất vững vàng cùng chiến lược quản trị rủi ro thực tế đang định hình làn sóng đầu tư xuyên biên giới có tính toán, tạo tiền đề để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới