Bước ngoặt xanh của thép
Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sản lượng thép thô 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 14,8 triệu tấn. Ảnh: TL
Trong khán phòng hội thảo do Công ty Chứng khoán Vietcap tổ chức vào giữa tháng 8, bầu không khí không chỉ xoay quanh những biểu đồ lợi nhuận quen thuộc. Đối diện với hàng chục đại diện các quỹ đầu tư lớn trong và ngoài nước, Giám đốc Tài chính của Tập đoàn Hòa Phát (mã HPG) liên tục nhận được những câu hỏi. Tuy nhiên, tâm điểm chú ý của giới phân tích tài chính quốc tế không còn dừng lại ở chu kỳ giá thép xây dựng hay tiến độ mở rộng bất động sản, mà tập trung vào một chủ đề mang tính sống còn: kế hoạch tự chủ năng lượng sạch, cường độ phát thải carbon trên từng tấn thép và tiến độ dự án đường ray tàu cao tốc Dung Quất.
Phân hóa trên bệ đỡ nội địa
Câu chuyện tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư của Hòa Phát là lát cắt tiêu biểu cho bước chuyển mình của toàn ngành công nghiệp nặng. Ngành sản xuất vốn được xem là “xương sống” của hạ tầng đang bước vào giai đoạn mà giá thành rẻ không còn là bảo chứng duy nhất cho sự thành công, nhường chỗ cho cuộc đua tối ưu hóa chuỗi giá trị và thích ứng với các rào cản khí hậu khắt khe từ thị trường quốc tế.
![]() |
Sau giai đoạn khó khăn kéo dài, thị trường thép Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ về lợi nhuận trong quý II/2026, chủ yếu được nâng đỡ bởi động cơ tiêu thụ nội địa. Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sản lượng thép thô 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 14,8 triệu tấn (tăng 21,2% so với cùng kỳ), tiêu thụ toàn thị trường đạt 17,9 triệu tấn (tăng 13,1%).
Ngược lại, xuất khẩu giảm 4,8% xuống 1,79 triệu tấn, phản ánh sức cầu quốc tế chậm lại và các biện pháp bảo hộ gia tăng. Theo Công ty Chứng khoán VCBS, sự phục hồi của thị trường bất động sản cùng tốc độ giải ngân quyết liệt tại các dự án hạ tầng trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam hay sân bay quốc tế Long Thành - đã thúc đẩy tiêu thụ thép xây dựng tăng gần 20% và thép cuộn cán nóng (HRC) tăng gần 30% trong 5 tháng đầu năm.
Vị thế thống lĩnh của Hòa Phát tiếp tục được củng cố khi doanh nghiệp đóng góp phần lớn lợi nhuận toàn ngành. Lũy kế 6 tháng đầu năm, “anh cả” ngành thép chạm mốc doanh thu 108.870 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 15.480 tỷ đồng, tăng trưởng lần lượt 47% và 103%, hoàn thành 70% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2026. Động lực đến từ sản lượng bán hàng HRC đạt 3,4 triệu tấn (tăng 57%) cùng đà tăng trưởng bền bỉ của thép xây dựng.
Ở khối doanh nghiệp tôn mạ, Tập đoàn Hoa Sen (mã HSG) và Thép Nam Kim (mã NKG) đều ghi nhận biên lợi nhuận cải thiện rõ rệt nhờ giá HRC nguyên liệu phục hồi trong quý II và lượng hàng tồn kho giá thấp. Tại Hoa Sen, lợi nhuận ròng đạt 382 tỷ đồng (tăng 39%), trong khi Nam Kim đạt 104,1 tỷ đồng. Tại Tôn Đông Á (mã GDA), dù doanh thu giảm 28% nhưng lợi nhuận ròng vẫn nhích tăng 6% lên 93,1 tỷ đồng.
Ở các phân khúc khác, Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNSteel, mã TVN) bứt phá với lợi nhuận tăng 69% lên 433,1 tỷ đồng nhờ chiến lược phát triển dòng thép chất lượng cao thay thế hàng nhập khẩu. Ngược lại, những đơn vị chậm tái cấu trúc như Gang thép Thái Nguyên (TISCO, mã TIS) tiếp tục lún sâu vào khó khăn khi lợi nhuận giảm 43% chỉ còn hơn 8 tỷ đồng.
Bức tường thuế CBAM
Dù kết quả kinh doanh ngắn hạn khởi sắc, các lãnh đạo ngành thép đều nhìn nhận bức tranh trung và dài hạn đang bị bủa vây bởi “3 gọng kìm” chiến lược: rào cản thương mại gia tăng, biến động nguyên liệu thô toàn cầu và áp lực chuyển đổi xanh. Ở mặt trận thương mại quốc tế, tình trạng dư cung thép trên toàn cầu đã thúc đẩy làn sóng phòng vệ nghiêm ngặt. Mỹ siết chặt thuế theo Điều 232, trong khi các thị trường lớn liên tục mở rộng điều tra chống bán phá giá và chống lẩn tránh thuế.
Ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), nhấn mạnh ngành thép trong nước không chỉ cần chủ động ứng phó trên thị trường quốc tế mà còn phải kiến nghị bảo vệ thị trường nội địa bằng các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ trước thép giá rẻ nhập khẩu. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất mang tính bước ngoặt chính là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), bắt đầu áp dụng chính thức từ năm 2026 (với các nghĩa vụ tài chính thực tế bắt đầu thanh toán từ năm 2027).
Theo số liệu của World Steel, ngành thép hiện đóng góp 7-8% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, với trung bình 2,18 tấn CO2 trên mỗi tấn thép thành phẩm. Tại Việt Nam, đa phần các tổ hợp lớn vẫn sử dụng công nghệ lò cao truyền thống (BF-BOF) sử dụng than cốc, dẫn đến cường độ phát thải lên tới khoảng 2,7 tấn CO2/tấn thép, cao hơn đáng kể so với mức bình quân ở các quốc gia phát triển. Với mức giá tín chỉ carbon trên sàn giao dịch châu Âu dao động quanh mức 80 USD/tấn, mỗi tấn thép lò cao xuất sang EU sẽ phải gánh thêm khoản chi phí nghĩa vụ lên tới 184 USD. Điều này gần như sẽ xóa sạch toàn bộ lợi thế cạnh tranh về giá thành mà các nhà sản xuất châu Á nắm giữ nhiều năm qua.
![]() |
Trên quy mô toàn cầu, cuộc đua phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) đang vấp phải rào cản kỹ thuật và chi phí khổng lồ. Các dự án sử dụng hydro xanh kết hợp sắt hoàn nguyên trực tiếp (DRI) của những tên tuổi như HYBRIT (Thụy Điển), POSCO (Hàn Quốc) liên tục lùi mốc thương mại hóa, trong khi ArcelorMittal thậm chí phải hủy bỏ các dự án DRI-EAF tại Đức do chi phí năng lượng quá cao. Ước tính của McKinsey cho thấy ngành thép thế giới cần tới 4.400 tỷ USD đầu tư trong 3 thập kỷ tới để khử carbon.
Trước thực tế đó, Chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050 đã vạch ra lộ trình thực tế: tập trung nâng cao hiệu suất năng lượng, mở rộng công nghệ lò điện (EAF) gắn với nguồn điện sạch và buộc các dự án mới từ năm 2035 phải đi kèm cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) hoặc năng lượng tái tạo. Những doanh nghiệp sớm đi theo xu hướng này đang từng bước thiết lập rào cản gia nhập mới và gia tăng định giá.
Hòa Phát, với công suất 16 triệu tấn/năm, đang chứng minh rằng công nghệ lò cao vẫn có thể giảm thiểu phát thải đáng kể nếu khai thác tối đa kinh tế tuần hoàn. Dự án điện mặt trời áp mái 79,2 MWp tại Dung Quất (tổng vốn 600 tỷ đồng) dự kiến vận hành toàn bộ vào quý II/2027, cung cấp 115 triệu kWh điện sạch và cắt giảm hơn 78.000 tấn CO2/năm. Hòa Phát cũng phủ điện mặt trời tại Tôn Hòa Phát (đáp ứng 17% nhu cầu điện) và Thép Long An (đáp ứng 50%).
Các doanh nghiệp tôn mạ xuất khẩu như Hoa Sen và Tôn Đông Á chịu tác động trực tiếp từ CBAM đối với phát thải gián tiếp (phạm vi 2 và 3). Hoa Sen đẩy mạnh lắp đặt điện mặt trời mái nhà trên toàn bộ mạng lưới nhà máy, tổng kho và hợp tác với SP Group (Singapore) để số hóa quản trị năng lượng và tối ưu hóa nhiệt. Tôn Đông Á định hướng dây chuyền sản xuất mới theo chuẩn châu Âu và ưu tiên thu mua nguồn HRC đầu vào có chứng nhận phát thải thấp nhằm bảo vệ thị phần xuất khẩu.
Ông Nguyễn Phú Dương, Phó Tổng Giám đốc VNSteel, cho biết Công ty đang chuẩn hóa năng lực kiểm kê tại từng công đoạn sản xuất, đánh giá các nguồn phát thải, áp dụng công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tối ưu hạn ngạch được phân bổ và chuẩn bị tham gia thị trường carbon. Việc chuẩn hóa này không chỉ phục vụ nghĩa vụ báo cáo, mà còn cho thấy quản trị phát thải đang được đưa vào hoạt động vận hành, thay vì xử lý sau khi sản xuất kết thúc.
Trong khi đó, theo ông Phạm Công Thảo, Phó Chủ tịch VSA, trong bối cảnh các quy định về môi trường ngày càng chặt chẽ, cơ hội đã đến với những doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ tái chế, công nghệ lò điện. Các doanh nghiệp này có thể đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dài sang thị trường quốc tế nhờ lợi thế về phát thải thấp.
![]() |
VSA dự báo cả năm 2026, sản lượng thép thô trên toàn quốc có thể đạt khoảng 27 triệu tấn (tăng 10% so với cùng kỳ), sản lượng thép thành phẩm đạt 33 triệu tấn và tiêu thụ nội địa đạt 28 triệu tấn. Sự ra đời của thị trường giao dịch tín chỉ carbon trong nước sẽ là đòn bẩy quan trọng hỗ trợ tài chính cho các nhà sản xuất xuất khẩu.
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển (CODE), nhận định, khi giá carbon đủ lớn, doanh nghiệp sẽ phải tính lại bài toán đầu tư. Chi phí mua hạn ngạch hoặc tín chỉ có thể khiến công nghệ cũ trở nên đắt đỏ hơn, trong khi đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng, năng lượng sạch hoặc quy trình sản xuất phát thải thấp trở nên hấp dẫn hơn về dài hạn.
Thị trường thép Việt Nam đang bước qua thời kỳ cạnh tranh thuần túy bằng quy mô sản lượng và giá rẻ. Lợi thế dài hạn đang dồn về nhóm doanh nghiệp có bảng cân đối tài chính lành mạnh, chủ động tích hợp năng lượng tái tạo, kiểm kê khí nhà kính minh bạch và nâng cao tỷ trọng các dòng thép kỹ thuật cao.
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư
Tin cùng chuyên mục
-
Trần Đăng
-
Nguyễn Tân
-
Quốc Hùng
-
Nguyễn Kim
-
Trần Đăng
Tin nổi bật trong ngày
Tin mới
-
Diễm Trang

English








