Hủy
Tài Chính

Thập kỷ xoay trục ngân hàng

Kim Dung Thứ Ba | 18/08/2026 14:00

Số ngân hàng trong TOP 50 tăng vọt từ 7 (2023) lên 12 (2024), rồi 15 (2025), tốc độ tăng nhanh nhất trong toàn bộ 14 năm được ghi nhận. Ảnh: TL

 
 
Trước khi trở thành nhóm ngành nổi bật nhất bảng xếp hạng, ngân hàng lại là lĩnh vực có nhiều doanh nghiệp rời TOP 50 nhất.

Nhìn lại hành trình 14 năm kể từ khi bảng xếp hạng 50 Công ty niêm yết kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam (TOP 50) chính thức công bố lần đầu tiên vào năm 2012, ngành ngân hàng đã trải qua một chu kỳ đầy kịch tính: từ vị thế trụ cột, bước vào giai đoạn tái cơ cấu sâu rộng, rồi từng bước trở thành một trong những động lực quan trọng của thị trường tài chính. 

Hơn một thập kỷ thăng trầm 

Năm 2012, ngành ngân hàng vẫn còn góp mặt tương đối đông đảo trong TOP 50 với 5 đại diện, nhưng đó hóa ra lại là đỉnh của một con dốc đi xuống. Số lượng ngân hàng trong TOP 50 giảm dần qua từng năm trước khi rơi thẳng xuống con số 0 vào năm 2015. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong suốt 14 năm, danh sách TOP 50 hoàn toàn vắng bóng ngân hàng.

Sự sụt giảm này trùng khớp với giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam trải qua cuộc tái cấu trúc lớn nhất trong lịch sử. Giai đoạn 2011-2015, hàng loạt ngân hàng yếu kém được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, nhiều thương vụ sáp nhập bắt buộc được thực hiện và đặc biệt là việc siết chặt phân loại nợ, trích lập dự phòng theo Thông tư 02/2013 đã bào mòn đáng kể lợi nhuận toàn ngành. 

Với tiêu chí xét chọn đòi hỏi tăng trưởng lợi nhuận ổn định trong một giai đoạn, chỉ cần một năm trật nhịp cũng đủ khiến cả những ngân hàng lớn bị loại khỏi TOP 50. Năm 2016, chỉ mỗi Vietcombank (VCB) còn trụ lại trong danh sách, dư âm rõ nét của giai đoạn khó khăn vẫn chưa chấm dứt.

Bước ngoặt bắt đầu từ năm 2017, ngành ngân hàng dần lấy lại vị thế, với số lượng đại diện trong TOP 50 tăng đều và duy trì ổn định quanh ngưỡng 5-9 ngân hàng mỗi năm trong suốt giai đoạn 2017-2023. Đây không phải là sự bùng nổ, mà là một quá trình phục hồi có kiểm soát, phản ánh đúng tinh thần vừa tăng trưởng, vừa củng cố nền tảng của ngành sau khủng hoảng.

Nếu giai đoạn 2017-2023 là câu chuyện của sự thận trọng thì năm 2024-2025 lại là một cuộc bứt phá thực sự. Số ngân hàng trong TOP 50 tăng vọt từ 7 (2023) lên 12 (2024), rồi 15 (2025), tốc độ tăng nhanh nhất trong toàn bộ 14 năm được ghi nhận. Điều làm nên sự khác biệt của giai đoạn này không chỉ nằm ở con số, bởi thay vì chỉ những cái tên quen thuộc, danh sách năm 2024-2025 chứng kiến sự xuất hiện lần đầu của một loạt ngân hàng tầm trung: LPBank và Nam A Bank góp mặt từ năm 2023-2024, tiếp đó là MSB, OCB và SeABank lần đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng ngay trong năm 2024 và 2025. 

Nói cách khác, đà tăng trưởng lợi nhuận không còn là đặc quyền của nhóm ngân hàng quốc doanh hay tư nhân top đầu, mà đã lan tỏa ra cả khối ngân hàng quy mô vừa, một tín hiệu cho thấy sự cải thiện đang diễn ra trên diện rộng của cả hệ thống, chứ không chỉ tập trung ở một vài tên tuổi lớn. 

2024-2025 cũng là giai đoạn chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của khối ngân hàng tư nhân. Cuối năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi sau nhiều năm, Việt Nam có 3 ngân hàng tư nhân đạt quy mô tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng, gồm Techcombank, VPBank và ACB. Chỉ sau nửa năm, đến cuối quý II/2026, HDBank cũng chính thức gia nhập nhóm này, cho thấy làn sóng mở rộng quy mô của khối ngân hàng tư nhân đang diễn ra mạnh mẽ. 

Theo đại diện của FinSuccess, khi đạt đến quy mô đủ lớn, các ngân hàng tư nhân không chỉ mở rộng thị phần mà còn cải thiện đáng kể năng lực huy động vốn, tối ưu chi phí vốn và gia tăng dư địa điều chỉnh lãi suất. Đây là nền tảng giúp họ thu hẹp khoảng cách cạnh tranh với các ngân hàng quốc doanh như Vietcombank, BIDV hay VietinBank. 

“Sự lớn mạnh của các ngân hàng tư nhân phản ánh bước phát triển đột phá và tính năng động cao của hệ thống tài chính Việt Nam. Điểm chung tạo nên sức mạnh tổng thể của nhóm này là năng lực dẫn dắt chuyển đổi số, tối ưu hóa chi phí vốn nhờ dòng tiền gửi không kỳ hạn và khả năng khai thác hiệu quả các hệ sinh thái tài chính đa dạng”, ông Trần Quốc Toàn, Giám đốc Chi nhánh 2 Hội sở, Công ty Chứng khoán Mirae Asset, chia sẻ với NCĐT. 

Theo ông Toàn, việc liên tục củng cố đệm vốn chủ sở hữu cùng sự linh hoạt trong việc phủ rộng các phân khúc từ bán lẻ, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đến quản lý tài sản đã giúp khối tư nhân không chỉ duy trì hiệu quả sinh lời vượt trội, mà còn khẳng định vai trò trụ cột cung ứng vốn cho nền kinh tế, bên cạnh vai trò chủ đạo của nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đường đua mới của lợi nhuận 

Quý II/2026, tổng lợi nhuận sau thuế của 18 ngân hàng niêm yết được NCĐT thống kê đạt hơn 85.568 tỷ đồng, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy bức tranh lợi nhuận của ngành ngân hàng tiếp tục phân hóa mạnh. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh cùng một số ngân hàng tư nhân như VPBank, HDBank, Techcombank ghi nhận mức tăng trưởng 2 con số, một số ngân hàng như Sacombank, Eximbank hay SeABank lại chứng kiến lợi nhuận đi lùi. 

Điểm dễ nhận thấy nhất là hoạt động tín dụng vẫn là động lực tạo lợi nhuận chủ đạo. Phần lớn ngân hàng có kết quả khả quan đều ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng hoặc hoạt động kinh doanh cốt lõi cải thiện nhờ tăng trưởng tín dụng. Điều này cho thấy, bất chấp nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu trong nhiều năm qua, tín dụng vẫn đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận của hệ thống ngân hàng.

Tăng trưởng tín dụng không còn là điều kiện đủ để tạo ra lợi nhuận cao. Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các ngân hàng trong quý này chính là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Dữ liệu được NCĐT thống kê cho thấy, những ngân hàng giảm được áp lực dự phòng như BIDV, MB, TPBank và Techcombank đều có thêm dư địa cải thiện lợi nhuận. Ngược lại, ACB, VIB, Eximbank và Sacombank chịu ảnh hưởng đáng kể khi gia tăng trích lập dự phòng, khiến lợi nhuận bị thu hẹp dù hoạt động kinh doanh không suy giảm tương ứng. Riêng VietinBank vẫn duy trì mức tăng trưởng hơn 20% dù tiếp tục tăng cường trích lập, phản ánh khả năng tạo thu nhập từ hoạt động cốt lõi đủ lớn để bù đắp chi phí rủi ro.

Ảnh: TL
Quý II/2026, tổng lợi nhuận sau thuế của 18 ngân hàng niêm yết được NCĐT thống kê đạt hơn 85.568 tỷ đồng, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: TL

Một xu hướng khác cũng nổi lên là nguồn thu ngoài lãi đang đóng vai trò hỗ trợ ngày càng rõ nét, nhưng mức độ đóng góp còn khác nhau giữa các ngân hàng. OCB, chẳng hạn, có thu nhập ngoài lãi tăng nhờ đẩy mạnh số hóa, thu hút thêm khách hàng sử dụng dịch vụ. Hay như SHB, dù có sự suy giảm trong hoạt động kinh doanh cốt lõi, nhưng nhờ nguồn thu dịch vụ tăng trưởng đột biến đã tạo dư địa để ngân hàng này cải thiện lợi nhuận. 

Công ty Chứng khoán MBS cho rằng bức tranh tín dụng toàn ngành sẽ tiếp tục xu hướng phân hóa như trong những năm trở lại đây. Các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân nhận chuyển giao bắt buộc sẽ có mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn, trong khi nhóm ngân hàng bán lẻ sẽ ghi nhận tăng trưởng tín dụng chậm hơn. 

Bên cạnh nhóm ngân hàng quốc doanh được hưởng lợi từ việc thúc đẩy đầu tư công, nhóm ngân hàng tư nhân có lợi thế về cho vay xuất nhập khẩu, khu công nghiệp và chuỗi cung ứng đi cùng với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) thấp như ACB, HDBank… được dự báo sẽ có dư địa cho vay lớn hơn các nhóm ngân hàng khác khi ít chịu áp lực thanh khoản hơn. 

“Nhóm ngân hàng có tỷ lệ CASA cao như Vietcombank, Techcombank, MB và chất lượng tài sản vượt trội so với ngành như VietinBank, Vietcombank, ACB, Techcombank cũng sẽ có lợi thế trong việc đẩy mạnh thêm tín dụng bán lẻ nhờ lợi thế chi phí vốn và khả năng chống chịu tốt hơn trước sức ép gia tăng nợ xấu trong tương lai”, MBS nhận định. 

Kết quả kinh doanh quý II/2026 cũng cho thấy một xu hướng đáng chú ý: tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng ngày càng không còn phụ thuộc hoàn toàn vào việc mở rộng tín dụng. Nhiều ngân hàng ghi nhận sự đóng góp tích cực từ dịch vụ, ngân hàng số, thanh toán hay các hoạt động ngoài lãi. Những ngân hàng chỉ dựa vào nguồn thu truyền thống lại chịu áp lực lớn hơn khi chi phí vốn hoặc chi phí dự phòng gia tăng. 

Điều này phản ánh cuộc cạnh tranh của ngành ngân hàng đang dịch chuyển từ quy mô tín dụng sang khả năng khai thác toàn bộ nhu cầu tài chính của khách hàng. Chính sự thay đổi này đang thúc đẩy các ngân hàng mở rộng hệ sinh thái tài chính, thay vì chỉ cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay. 

Kỷ nguyên ngân hàng toàn năng 

Năm 2025, thu nhập ròng của ngành ngân hàng toàn cầu đạt mốc lịch sử 1.300 tỷ USD, củng cố vị thế là lĩnh vực có lợi nhuận cao nhất, theo McKinsey. Tuy nhiên, bên dưới những con số kỷ lục này là sự thay đổi đáng kể về cách ngân hàng tạo doanh thu và lợi nhuận. Tỷ trọng tài sản nằm trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng đang thu hẹp lại, từ 44% năm 2022 xuống còn 40% vào năm 2025. Thay vào đó, doanh thu và lợi nhuận từ nghiệp vụ ngân hàng giao dịch và phân phối đã vươn lên mạnh mẽ, hiện chiếm tới 47% doanh thu và 57% lợi nhuận toàn ngành trên bình diện toàn cầu. 

Ranh giới giữa ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm đang dần xóa nhòa khi các tập đoàn tài chính lớn gia tăng sự hiện diện. Tại Việt Nam, các ngân hàng hàng đầu như Vietcombank, Techcombank, MB hay VPBank đã thiết lập hệ sinh thái công ty con vững chắc, trong khi nhóm ngân hàng tầm trung chọn con đường M&A để nhanh chóng thâm nhập mảng quản lý quỹ và chứng khoán. 

Ảnh: TL
Năm 2025, thu nhập ròng của ngành ngân hàng toàn cầu đạt mốc lịch sử 1.300 tỷ USD. Ảnh: TL

Theo chia sẻ từ Mirae Asset, nguyên nhân sâu xa của làn sóng này xuất phát từ áp lực bức thiết trong việc tái cơ cấu nguồn thu. Trong bối cảnh biên lãi thuần (NIM) liên tục đối mặt với rủi ro thu hẹp do biến động vĩ mô, cộng thêm việc tăng trưởng tín dụng truyền thống luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ, các ngân hàng buộc phải tìm kiếm động lực tăng trưởng mới. 

“Lời giải khả dĩ và tối ưu nhất hiện nay chính là gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi. Bằng cách lấn sân sang mảng tư vấn phát hành, phí môi giới, quản lý gia sản và bán chéo, các ngân hàng không chỉ đa dạng hóa nguồn thu mà còn giảm thiểu rủi ro tập trung vào tín dụng”, ông Toàn của Mirae Asset nhận định. 

Hơn nữa, việc sở hữu một hệ sinh thái tài chính khép kín tạo ra một lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về bài toán huy động vốn nhờ thiết lập vòng lặp dòng tiền nội bộ hoàn hảo. Dòng vốn giá rẻ (CASA) dù dịch chuyển giữa các mảng chứng khoán hay quỹ đầu tư vẫn luôn nằm trong hệ thống ngân hàng mẹ, giúp tối ưu hóa chi phí vốn (COF). Đồng thời, việc đáp ứng toàn diện nhu cầu tài chính giúp tăng độ gắn kết và là giải pháp then chốt để giữ chân khách hàng trong dài hạn. 

Đồng quan điểm, ông Quản Trọng Thành, Giám đốc Khối Phân tích, Công ty Chứng khoán Maybank Việt Nam, cho rằng, nếu chỉ dựa vào tín dụng, ROA của ngân hàng thường chỉ đạt khoảng 1,5-1,8%, rất khó vượt 2%. Muốn đạt mức 2-2,5%, ngân hàng bắt buộc phải đẩy mạnh nguồn thu từ phí. Đây chính là động lực cốt lõi khiến các ngân hàng phát triển hệ sinh thái tài chính. 

“Việc hình thành tập đoàn tài chính xuất phát từ chính nhu cầu của khách hàng. Ở góc độ cá nhân, khi đạt đến một giai đoạn nhất định, ngoài tiền gửi, khách hàng muốn đầu tư thêm vào bất động sản, rồi làm quen với trái phiếu, cổ phiếu và sắp tới là tài sản số. Khi đó, tổ chức nào có đủ nguồn lực, năng lực và nền tảng để đáp ứng tất cả các nhu cầu này sẽ có lợi thế”, ông Thành phân tích.

Mô hình tập đoàn tài chính từng bùng nổ từ cuối thế kỷ XX (tăng từ 42% năm 1995 lên 60% năm 2000 trong Top 500 định chế lớn nhất, theo OECD). Tuy nhiên, thập kỷ qua ghi nhận bước ngoặt về chiến lược địa lý với sự thu hẹp của các gã khổng lồ (global universal bank): năm 2005 có 10/20 ngân hàng lớn nhất thế giới hoạt động theo mô hình toàn cầu, đến năm 2025 con số này giảm xuống còn 4. HSBC và Citibank là ví dụ điển hình cho việc thoái vốn khỏi mảng bán lẻ toàn cầu để dồn lực cho thị trường trọng điểm.

Dù các gã khổng lồ đang thu hẹp quy mô toàn cầu để tập trung vào các khu vực ưu tiên, mô hình ngân hàng toàn năng và việc xây dựng hệ sinh thái tài chính khép kín không chỉ là xu hướng mà còn là chiến lược tất yếu để các ngân hàng thích nghi với bối cảnh kinh tế mới.

Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới