Hủy
Tài Chính

Ngân hàng mua chéo trái phiếu

Phương Anh Thứ Ba | 10/08/2021 08:43

Trong nửa đầu năm nay, có nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động nguồn vốn từ trái phiếu. Ảnh: Qúy Hòa.

Khối lượng trái phiếu các ngân hàng mua của nhau chiếm đến hơn 1/4 tổng khối lượng phát hành.
 

Trong nửa đầu năm nay, có nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động nguồn vốn từ trái phiếu. Thống kê của Công ty Chứng khoán SSI cho thấy trong 6 tháng đầu năm, đã có 15 ngân hàng thương mại phát hành 68.200 tỉ đồng trái phiếu, với kỳ hạn bình quân 3,37 năm và lãi suất bình quân 4,3%/năm. Có thể kể đến như ACB (9.200 tỉ đồng), HDBank (6.100 tỉ đồng), TPBank (9.100 tỉ đồng), VPBank (5.150 tỉ đồng), OCB (5.000 tỉ đồng).

Ngân hàng hút ngân hàng

Đáng chú ý, người mua trái phiếu do ngân hàng phát hành đa phần chính là các ngân hàng và công ty chứng khoán. Theo đó, các ngân hàng đã chi 17.800 tỉ đồng để mua lại trái phiếu ngân hàng khác phát hành (chiếm tỉ trọng 26%), các công ty chứng khoán chi 38.300 tỉ đồng (chiếm 56%), tổ chức trong nước chiếm 15% và các cá nhân chiếm gần 3%.

Như vậy, ngân hàng và các công ty chứng khoán đã chiếm đến 82% lượng mua trái phiếu ngân hàng trong nửa đầu năm nay. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, đa phần người nắm cuộc chơi sau cùng chính là các ngân hàng. “Các ngân hàng thương mại chủ yếu là bán chéo trái phiếu cho nhau”, SSI nhận định.

Trên thực tế, trái phiếu ngân hàng không hấp dẫn với các nhà đầu tư vì lãi suất phát hành quá thấp. Chẳng hạn, khoản huy động từ trái phiếu của ACB có lãi suất bình quân là 3,7%/năm cùng kỳ hạn 3 năm, trong khi lãi suất tiết kiệm niêm yết kỳ hạn trên 12 tháng cũng phải là trên 6,2%/năm.

Thống kê cũng cho thấy có khoảng 83% tổng trái phiếu ngân hàng phát hành nửa đầu năm có kỳ hạn 2-3 năm, với lãi suất cố định từ 3-4,2%/năm, trả lãi hằng năm. Đây cũng là mức lãi suất thấp hơn hẳn lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 12 tháng trả sau (5,6-6%/năm). “Gần như toàn bộ số trái phiếu này được mua bởi các ngân hàng và công ty chứng khoán”, SSI nhận định.

 

Thay vào đó, các nhà đầu tư cá nhân sẽ quan tâm trái phiếu tăng vốn cấp 2 có kỳ hạn dài (7-15 năm), hầu hết có lãi suất thả nổi, năm đầu dao động từ 6,2-7,9%/năm. Trái phiếu này thường kèm theo quyền mua lại trước hạn của tổ chức phát hành sau 2-5 năm (hoặc 10 năm với trái phiếu 15 năm), nếu không thực hiện lãi suất các kỳ cuối sẽ tăng rất cao. 

“Trái phiếu ngân hàng có lãi suất phát hành khá sát với lãi suất tiền gửi nên nhà đầu tư thông thường cũng ít tìm đến trái phiếu ngân hàng, ngoại trừ các trái phiếu tăng vốn cấp 2 có lãi suất cao hơn hẳn lãi suất tiền gửi”, báo cáo của SSI lý giải.

Theo các chuyên gia, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng trưởng, nhờ nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp, trong khi hoạt động tín dụng sẽ thận trọng hơn do lo ngại rủi ro nợ xấu tiềm tàng vì dịch bệnh. Trong bối cảnh này, ngân hàng cũng tiếp tục đẩy mạnh hoạt động mua trái phiếu doanh nghiệp vì nguồn cung vốn trên thị trường chủ lực vẫn là trung gian tài chính này. 

Thêm vào đó, ngân hàng đã có thể trực tiếp mua chéo trái phiếu của nhau trên thị trường sơ cấp, theo quy định mới trong Thông tư 01/2021 có hiệu lực ngày 17/5. Do đó, hiện tượng ngân hàng “mua chéo” trái phiếu lẫn nhau trong thời gian tới nhiều khả năng sẽ ngày càng phổ biến hơn.

Dấu hỏi về dòng tiền 

Trong bối cảnh thanh khoản dư thừa, hoạt động kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp ở nhiều ngân hàng đang được đẩy mạnh và dần mang lại lợi nhuận lớn. Điển hình là trường hợp của Techcombank với công ty chứng khoán con là TCBS. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đã tăng 10,7% kể từ đầu năm (năm ngoái tăng 42,4%). Trái phiếu doanh nghiệp và dịch vụ ngân hàng đầu tư khác đóng góp 1.800 tỉ đồng thu nhập, tăng 30,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm.

 

Dù vậy, việc mua lại trái phiếu của các ngân hàng với lãi suất thấp hơn đáng kể cũng đồng thời mang lại lợi ích khác. Đầu tiên có thể thấy là chi phí vốn đầu vào của ngân hàng nhìn chung giảm mạnh, từ đó đem đến suất sinh lợi cao hơn đáng kể (thực tế NIM - biên lãi suất ngân hàng trong thời gian qua vẫn tăng mạnh). Ngoài ra, việc 2 ngân hàng đầu tư chéo trái phiếu còn giúp tăng nguồn vốn trung và dài hạn. 

Một quy định đáng chú ý khác là khoản đầu tư trái phiếu kỳ hạn trên 5 năm tại các tổ chức tín dụng khác sẽ bị loại khỏi vốn tự có cấp 2 của chính ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến tỉ lệ an toàn vốn. Tuy nhiên, đây cũng là lý do mà trong thời gian qua, nhiều ngân hàng đã mạnh tay đầu tư hơn vào trái phiếu phát hành kỳ hạn 2-3 năm của ngân hàng khác, trừ những trường hợp cá biệt như BIDV hay VietinBank do thiếu vốn cấp 2 nên phải bổ sung khẩn cấp với kỳ hạn dài.

Với nhu cầu vốn lớn như thế, cũng chỉ có các ngân hàng mới có đủ nguồn lực (về quy mô vốn và chi phí vốn thấp) để hỗ trợ lẫn nhau trong thời điểm hiện tại. Theo SSI, vì tổng vốn chủ sở hữu của các công ty chứng khoán tính đến hết năm 2020 chỉ khoảng 93.000 tỉ đồng, trong khi lượng mua trái phiếu lên đến 71.700 tỉ đồng, nên nhiều khả năng các công ty chứng khoán chỉ đứng tên mua trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường sơ cấp. Sau đó, các công ty này chỉ nắm giữ ngắn hạn và nhanh chóng phân phối lại cho các nhà đầu tư khác.

Hiện tượng này tạo ra những “điểm mù” nhất định trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp mà nhiều chuyên gia cũng đã nhiều lần cảnh báo. Có thể hình dung dòng tiền chảy từ “thượng nguồn” ngân hàng đến “hạ nguồn” doanh nghiệp, nhưng hướng đi cuối cùng cũng là một dấu hỏi lớn. Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng, thông qua hoạt động mua trái phiếu, đã gián tiếp cung cấp tín dụng đến các doanh nghiệp khác. Khi nhiều ngân hàng “bắt tay” với nhau, cũng sẽ đồng thời tạo ra mạng lưới cộng đồng doanh nghiệp “thân hữu”.


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới