Hủy
Kinh Doanh

Phép thử sức bền nội địa

Minh Đức Thứ Năm | 11/06/2026 07:30

Giai đoạn hiện tại là một bài kiểm tra khắt khe của thị trường đối với sức chống chịu của Việt Nam. Ảnh: TL

 
 
Khả năng kiến tạo được một hệ sinh thái công nghiệp nội địa vững mạnh nhất xoay quanh các nhà máy.

Việt Nam đã vươn lên như một trong những “người chiến thắng” lớn nhất từ chiến lược “Trung Quốc + 1”. Song đằng sau bề mặt hào nhoáng của những dòng vốn tỷ USD, giới phân tích vĩ mô đưa ra những cảnh báo về rủi ro từ một mô hình tăng trưởng quá phụ thuộc vào nhu cầu bên ngoài và khối sản xuất có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). 

Rủi ro từ “nền kinh tế kép”

Để hiểu được tính cấp thiết của sự dịch chuyển cấu trúc này, thị trường cần nhìn thẳng vào sự thật về một nền kinh tế có độ mở gần 200% GDP. Sự nhạy cảm trước những đứt gãy logistics, biến động giá năng lượng và sự phân mảnh thương mại đang làm bộc lộ đặc trưng của một “nền kinh tế kép”. Ở đó, khu vực xuất khẩu FDI có sức cạnh tranh vượt trội đang hoạt động song song - nhưng thiếu liên kết - với một khu vực kinh tế tư nhân trong nước tương đối yếu và chỉ tham gia vào các phân khúc giá trị gia tăng thấp. 

Sự phân cực này thể hiện rõ nét qua “cú sốc bất đối xứng” trong các số liệu vĩ mô quý I/2026. Bất chấp tổng kim ngạch xuất khẩu có vẻ khả quan, Việt Nam bất ngờ ghi nhận mức nhập siêu ước tính 3,64 tỷ USD, với kim ngạch nhập khẩu tăng vọt 27% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 19,1%. 

Sự chênh lệch vĩ mô càng trở nên khốc liệt dưới áp lực thuế quan mới. Theo Tổng Cục Thống kê, tính đến ngày 4/4, khối FDI tạo ra 98,46 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong quý I (tăng 33,3% so với cùng kỳ). Các ngành mũi nhọn như điện tử và máy móc của khối này thể hiện sức chống chịu nhờ chỉ phải chịu mức thuế suất khoảng 9%. Khối FDI tiếp tục gánh vác hơn 80% kim ngạch xuất khẩu. 

Khối nội địa chỉ đạt 24,47 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, sụt giảm 16,6% so với cùng kỳ. Các ngành truyền thống chiếm ưu thế của doanh nghiệp nội như dệt may, da giày và gỗ bị giáng đòn nặng nề bởi các mức thuế quan dao động từ 15-38%. Tỷ trọng đóng góp xuất khẩu của khối nội địa sụt giảm 16,6%. 

“Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu với tốc độ đáng kinh ngạc, nhưng sự phát triển của năng lực công nghiệp nội địa, bao gồm các ngành công nghiệp phụ trợ, an ninh năng lượng và mức độ ứng dụng công nghệ vẫn chưa bắt kịp nhịp độ đó”, ông Sana Ur Rehman, chuyên viên phân tích thị trường cấp cao tại EBC Financial Group, nhận định. 

Tấm khiên nội địa

Giai đoạn hiện tại là một bài kiểm tra khắt khe của thị trường đối với sức chống chịu của Việt Nam. Các nhà sản xuất Việt Nam lại chủ yếu cạnh tranh bằng giá thay vì hàm lượng công nghệ, khiến họ gặp khó khăn trong việc chuyển phần chi phí gia tăng này sang cho khách hàng quốc tế. Nếu giá năng lượng tiếp tục neo cao trong nửa cuối năm 2026, áp lực biên lợi nhuận sẽ bóp nghẹt các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) định hướng xuất khẩu ở phân khúc thấp.

 “Một trong những thách thức lớn của Việt Nam vẫn là cú sốc năng lượng: giá năng lượng cao làm gia tăng thâm hụt thương mại, còn chính thâm hụt thương mại lại tác động ngược trở lại nền kinh tế nội địa thông qua việc làm suy giảm thanh khoản”, ông Frederic Neumann, Kinh tế trưởng Khối Nghiên cứu Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Ngân hàng HSBC, nhận định.

Trong khi các nhà sản xuất FDI tận dụng triệt để tấm đệm tài chính từ công ty mẹ và chuỗi cung ứng nội bộ, các SME nội địa lại chật vật với nguồn tín dụng ngân hàng ngắn hạn giữa bối cảnh lãi suất cho vay vẫn đang neo cao. Thị trường vốn quốc tế nhận định, điểm nghẽn mang tính “nút thắt cổ chai” lớn nhất của Việt Nam hiện nay là sự liên kết lỏng lẻo giữa FDI và các nhà cung cấp nội địa. Mặc dù vốn FDI đăng ký quý I tăng vọt 42,9%, đạt 15,2 tỷ USD, đại đa số doanh nghiệp nội địa vẫn bị cô lập khỏi mạng lưới này. 

Theo Economica Việt Nam, trong tổng số hơn 1 triệu doanh nghiệp tại Việt Nam, chỉ có khoảng 5.000 đơn vị (chiếm 0,5%) tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chỉ có 300 công ty là nhà cung cấp và vỏn vẹn 100 doanh nghiệp đảm nhận được vai trò cung cấp trực tiếp cho các tập đoàn lớn. 

Báo cáo mới đây của World Bank cho thấy, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu của Việt Nam hiện chỉ khoảng 45-50%, cho thấy phần giá trị lớn vẫn nằm ở các khâu thiết kế, phân phối và tổ chức chuỗi cung ứng, là những khâu mà doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc World Bank tại Việt Nam, Campuchia và Lào, cũng lưu ý Việt Nam là nền kinh tế rất mở, phụ thuộc nhiều vào các chuỗi giá trị toàn cầu, trong khi môi trường quốc tế đang bất định hơn và phân mảnh địa chính trị gia tăng. 

Theo chuyên gia của HSBC Việt Nam, Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm đến được hưởng lợi từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, nếu không nâng cấp vai trò trong chuỗi, doanh nghiệp trong nước có thể chỉ dừng lại ở việc “làm nhiều hơn” mà không “giữ được nhiều hơn”. “Mô hình sản xuất của Việt Nam vẫn đang nghiêng quá nhiều về lắp ráp gia công thay vì tiến lên các phân khúc có giá trị cao hơn như công nghệ lõi, thiết kế hay R&D... Nếu các doanh nghiệp nội địa không thể nâng cấp công nghệ, Việt Nam có nguy cơ bị mắc kẹt trong cấu trúc giá trị gia tăng thấp”, ông Sana Ur Rehman từ EBC phân tích.


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới