Nghịch lý than
Bước sang nửa cuối năm 2026 và tầm nhìn đến năm 2030, thị trường than Việt Nam sẽ chứng kiến một cuộc sàng lọc khốc liệt. Ảnh: shutterstock.com
Trong khi các tập đoàn nhà nước phải vắt kiệt công suất và đẩy mạnh nhập khẩu than cho ngành điện thì ở một góc khác, những doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc vào tập khách hàng công nghiệp truyền thống lại đang chìm trong khủng hoảng. Sự lao dốc không phanh của Công ty Cổ phần Hợp Nhất (mã AAH) là minh chứng rõ nét nhất cho sự phân hóa sâu sắc này.
Hợp Nhất ghi nhận một cú rơi tự do về mặt chỉ số, theo báo cáo tài chính quý II/2026 vừa công bố. Doanh thu thuần của doanh nghiệp này bốc hơi 97% so với cùng kỳ, vỏn vẹn ở mức hơn 7,5 tỷ đồng. Hệ quả tất yếu là lợi nhuận gộp sụt giảm nghiêm trọng, kéo theo khoản lỗ sau thuế công ty mẹ trong quý II lên tới 7,52 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Hợp Nhất gánh khoản lỗ hơn 5 tỷ đồng.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến kết quả bết bát này đến từ một cái tên: Công ty Xi măng Chinfon. Là khách hàng lớn nhất của Hợp Nhất, việc Chinfon đột ngột điều chỉnh kế hoạch sản xuất ngay từ giữa quý I/2026 đã khiến các đơn hàng mua than bị cắt giảm mạnh.
![]() |
Nghịch lý nằm ở chỗ, sự ế ẩm của Hợp Nhất diễn ra trong bối cảnh thị trường than đang thiếu hàng nghiêm trọng. Nhưng đó là cơn khát đến từ các nhà máy nhiệt điện. Theo Bộ Công Thương, nhu cầu than cho điện năm 2026 dự kiến vượt 80 triệu tấn, trong khi khả năng khai thác trong nước chỉ đạt khoảng 40-45 triệu tấn. Dữ liệu mới nhất cho thấy, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tiêu thụ hơn 22,17 triệu tấn than, trong đó riêng lượng than cung cấp cho sản xuất điện chiếm tới 18,36 triệu tấn. Năm 2026, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) dự kiến tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu lên tới hơn 331 tỷ kWh, đòi hỏi một khối lượng than khổng lồ.
Sự phân cực này cho thấy dòng chảy than đang được Nhà nước nắn lại một cách triệt để. Mọi nguồn lực khai thác trong nước đều được ưu tiên tối đa cho lưới điện quốc gia. Các hộ tiêu thụ công nghiệp khác buộc phải tự tìm kiếm nguồn cung hoặc chấp nhận mức giá cao, nhưng nghịch lý là chính họ, như ngành xi măng, lại đang không có nhu cầu mua.
Bước sang nửa cuối năm 2026 và tầm nhìn đến năm 2030, thị trường than Việt Nam sẽ chứng kiến một cuộc sàng lọc khốc liệt, được định hình bởi 3 xu hướng chính. Trước hết là vị thế thống trị của than nhập khẩu. Trữ lượng khai thác hầm lò trong nước ngày càng sâu, chi phí đắt đỏ và sản lượng đã đạt đỉnh (trên dưới 40 triệu tấn/năm). Việc các nhà máy nhiệt điện mới đi vào vận hành (như Quảng Trạch 1, Vũng Áng 2) sẽ đẩy lượng than nhập khẩu tăng vọt.
Bên cạnh đó là sức ép từ Quy hoạch điện VIII (PDP8). Mặc dù nhiệt điện than vẫn là xương sống trong ngắn và trung hạn, nhưng lộ trình chuyển đổi xanh buộc các ngân hàng siết chặt tín dụng đối với các dự án năng lượng hóa thạch. Theo đề án, Việt Nam đặt mục tiêu từng bước chuyển đổi điện than sang nguồn năng lượng sạch, xanh như hydrogen và amoniac xanh, phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực. Sau năm 2030, Chính phủ sẽ không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa những nhà máy đã vận hành trên 40 năm.
Theo nghiên cứu mới nhất của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), với các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và chế biến gỗ, điện hóa có thể giúp giảm đáng kể phát thải khí nhà kính. Mức giảm có thể lên tới 80% phát thải khí nhà kính và tiết kiệm 30-50% năng lượng trong các kịch bản kết hợp với năng lượng tái tạo, khi sử dụng điện từ lưới điện.
![]() |
Với các cam kết ESG từ nhiều phía, doanh nghiệp đang buộc phải chuyển đổi xanh và đóng cửa đối với nguồn năng lượng hóa thạch. Chẳng hạn, để giảm phát thải, nhà máy dệt nhuộm của Youngone Corporation ở Nam Định đầu tư hàng triệu USD để chuyển lò hơi đốt bằng than sang trấu. Hay theo ông Lê Hoàng Minh, Giám đốc Điều hành Khối Sản xuất Vinamilk, doanh nghiệp vận hành lò hơi bằng viên nén và hướng tới loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng năng lượng hóa thạch để đốt lò hơi nhằm giảm khí thải…
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận định, nếu không đầu tư công nghệ để giảm phát thải, doanh nghiệp sẽ phải bỏ chi phí lớn để mua tín chỉ carbon bù đắp, đặc biệt khi xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu, vốn đang áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM).
Trong dòng chảy này, những doanh nghiệp như Hợp Nhất không thể tiếp tục mô hình “mua đầu này, bán đầu kia” cho một vài khách hàng. Sự sụp đổ doanh thu của Hợp Nhất trong quý II không đơn thuần là câu chuyện buồn của một doanh nghiệp niêm yết. Đó là hồi chuông cảnh báo cho một giai đoạn quá độ của ngành than, nơi dòng tiền chỉ chảy về những tập đoàn nắm giữ mạch máu năng lượng quốc gia.
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư

English







