Hủy
Tài Chính

Lãi suất điều chỉnh kép

Lam Hồng Thứ Hai | 08/12/2025 10:01

Yếu tố then chốt đầu tiên là sức ép từ chính sách tiền tệ toàn cầu, đặc biệt là động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Ảnh: TL.

 
 
Giống như một chiếc lò xo bị nén, việc điều chỉnh lãi suất là cần thiết cho 2 mục tiêu: tăng trưởng và ổn định.

Mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường ngân hàng đã bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại sau một thời gian dài duy trì ở mức thấp. Xu hướng này phản ánh rõ nét áp lực vốn và những biến động của môi trường tiền tệ trong những tháng cuối năm 2025. 

Cân đối vốn và áp lực tỉ giá
 
Mặc dù sự điều chỉnh này khiến nhiều người liên tưởng đến giai đoạn biến động mạnh trước đây, nhưng các chuyên gia nhận định đợt tăng hiện tại vẫn nằm trong biên độ kiểm soát, không tạo ra một chu kỳ đảo chiều lãi suất mang tính đột biến. Thay vào đó, nó chủ yếu phản ánh yêu cầu cân đối vốn và thích ứng với áp lực tỉ giá.

Yếu tố then chốt đầu tiên là sức ép từ chính sách tiền tệ toàn cầu, đặc biệt là động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Việc FED giữ lãi suất USD quanh mức 3,75-4% đã khiến dòng vốn toàn cầu dịch chuyển, ưu tiên trở về các thị trường có lợi suất cao. Điều này làm giảm khả năng thu hút vốn vào các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, đồng thời thu hẹp dư địa để duy trì mặt bằng lãi suất thấp trong nước.

Lãi suất quốc tế cao gây áp lực mạnh mẽ lên tỉ giá VND/USD, khiến tỉ giá liên tục tiến sát ngưỡng mục tiêu điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Trong bối cảnh dư địa cho mục tiêu tăng tỉ giá 3-5% trong cả năm gần như cạn kiệt, việc điều chỉnh lãi suất huy động tăng trở thành biện pháp hợp lý nhằm giảm động lực nắm giữ USD, góp phần ổn định sức mua của VND.

Nguyên nhân thứ 2 xuất phát từ nội tại hệ thống ngân hàng và bối cảnh kinh tế vĩ mô. Sự chênh lệch lớn giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy xu hướng nâng lãi suất. Tín dụng đã tăng 15,09% so với cuối năm trước và tăng tới 20,66% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong nhiều năm, trong khi huy động chỉ tăng 9,7%. Sự chênh lệch này buộc nhiều ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất để đảm bảo thanh khoản và duy trì tỉ lệ an toàn vốn.

Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, việc lãi suất huy động tăng vào cuối năm là diễn biến mang tính chu kỳ, do nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhập khẩu và chi trả cuối năm thường tăng mạnh.

Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phạm Thế Anh, Trưởng Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, cho rằng việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động được xem là hợp lý và cần thiết nhằm hạn chế dòng vốn đầu tư vào các tài sản đầu cơ, qua đó giúp ổn định vĩ mô trong trung và dài hạn. 

Bối cảnh thị trường bất động sản và tài sản tài chính tăng nóng cũng kéo theo nhu cầu tín dụng lớn hơn, tạo áp lực buộc ngân hàng phải nâng lãi suất huy động để kiểm soát dòng vốn. Xu hướng tăng lãi suất đã rục rịch biến động từ đầu quý IV. Trong tháng 10, thị trường ghi nhận 10 ngân hàng tăng lãi suất. Sang tháng 11, xu hướng này tiếp tục lan rộng khi có hơn 20 ngân hàng nâng lãi suất huy động, chủ yếu là các ngân hàng thương mại cổ phần. 

Nhìn tổng thể, mặt bằng lãi suất tăng nhưng không diễn ra trên diện rộng và không có dấu hiệu căng thẳng thanh khoản trong hệ thống. Lãi suất kỳ hạn ngắn (1-6 tháng) vẫn giữ ở mức thấp, phản ánh nhu cầu thanh khoản ổn định. “Kỳ vọng lãi suất sẽ tăng, nhưng chưa thể có một con số cụ thể, nếu có tăng sẽ không nhiều và khả năng nằm ở năm 2026”, bà Nguyễn Hoài Thu, Phó Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital, nhận định.

Ứng phó “cơn sóng ngầm” 

Mức lãi suất cao nhất trên thị trường hiện dao động từ 6-9%/năm, nhưng chủ yếu gắn với các gói tiền gửi có điều kiện đặc biệt, không phản ánh mặt bằng chung của thị trường. Chẳng hạn, PVcomBank dẫn đầu với mức 9%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng, yêu cầu số dư tối thiểu 2.000 tỉ đồng. HDBank áp dụng mức 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng đối với khoản tiền gửi từ 500 tỉ đồng. 

Đáng chú ý là dù lãi suất huy động tăng, mặt bằng lãi suất cho vay vẫn được duy trì ở mức cạnh tranh, đặc biệt đối với các lĩnh vực sản xuất và xuất nhập khẩu. Điều này cho thấy hệ thống ngân hàng đang ưu tiên cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định tiền tệ.

Năm 2026 Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP lên đến 10%. Điều này tiếp tục gây áp lực lên dòng tiền đầu tư và khả năng cân đối các biến số vĩ mô trong nền kinh tế. Việc nhiều ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất cho thấy cuộc đua huy động vốn đã quay trở lại rõ rệt trong quý IV/2025. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục kéo dài sang những tháng đầu năm 2026. 

Theo phân tích, dư địa giảm lãi suất hầu như không còn, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng được dự báo tăng tốc vào cuối năm, sau khi Ngân hàng Nhà nước nới hạn mức tăng trưởng cho nhiều ngân hàng. Áp lực tỉ giá và môi trường lãi suất quốc tế được dự báo chưa có dấu hiệu giảm nhiệt, trong khi nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh vẫn rất lớn. 
 
Mặc dù lãi suất huy động tăng được xem là cần thiết cho ổn định vĩ mô nhưng lại tạo ra một “cơn sóng ngầm” rủi ro trên thị trường bất động sản. Khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay sẽ phải điều chỉnh theo. Vấn đề đáng lo ngại nhất là việc lãi suất vay ưu đãi đang sắp hết hiệu lực. Ước tính có khoảng 500.000 tỉ đồng dư nợ người mua nhà mang tính đầu cơ đang hưởng lãi suất ưu đãi khoảng 6,5%/năm, với điểm rơi điều chỉnh lãi suất (hết thời gian ưu đãi 2-3 năm) chủ yếu vào năm 2026. 

Với áp lực trả nợ gia tăng đột biến, đặc biệt với các khoản vay lớn, giới đầu cơ có thể sẽ chọn phương án “thoát hàng sớm” để tránh lãi suất cao, nhất là trong bối cảnh giao dịch đã chững lại và cầu mua nhà ở thực không thể với tới mức giá hiện tại. Giai đoạn 2026-2027 được dự báo sẽ là thời điểm bản lề, nơi thị trường phải lựa chọn giữa một chu kỳ điều chỉnh lành mạnh hay một pha thoái trào thực sự của bất động sản.


Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày

Tin mới