Xoay trục ngân hàng vạn năng
Đến năm 2027, Việt Nam được dự báo sẽ trở thành thị trường tư vấn tài chính cá nhân trị giá khoảng 600 tỷ USD. Ảnh: Minh họa A.I.
Trong nhiều thập kỷ, các ngân hàng thương mại đã vận hành theo một kịch bản đơn giản nhưng lợi nhuận cao: tăng trưởng tín dụng nóng được thúc đẩy bởi lĩnh vực sản xuất đang phát triển và sự bùng nổ của bất động sản. Tuy nhiên, khi biên lãi thuần truyền thống bị thắt chặt và một tầng lớp khách hàng giàu có mới trỗi dậy, các ngân hàng trong nước đang chạy đua để viết lại mô hình kinh doanh của mình.
Việc hình thành các tập đoàn tài chính thông qua việc thâu tóm, thành lập công ty con chứng khoán, bảo hiểm và quản lý quỹ không chỉ là lời giải cho bài toán tăng trưởng dài hạn mà còn là chiến lược sống còn để giữ chân khách hàng trong một thị trường vốn ngày càng phức tạp.
Sự chuyển dịch “tập đoàn tài chính”
Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, thị trường tài chính chứng kiến một làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của các ngân hàng sang lĩnh vực bảo hiểm tự thân. Thay vì chỉ đóng vai trò đại lý phân phối cho các hãng ngoại, các ngân hàng bắt đầu thể hiện tham vọng làm chủ chuỗi giá trị.
Ngân hàng Á Châu (ACB) thông qua phương án thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Bảo hiểm Phi Nhân thọ ACB (ACB Insurance) với vốn điều lệ 500 tỷ đồng. Tương tự, TPBank cũng phê duyệt việc thành lập Công ty Bảo hiểm Phi nhân thọ Tiên Phong, nơi Ngân hàng nắm giữ ít nhất 50% vốn. Thậm chí, VPBank “chơi lớn” khi phê duyệt phương án góp vốn, mua cổ phần để thành lập công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ với vốn điều lệ dự kiến lên tới 2.000 tỷ đồng.
Theo đánh giá của ông Quản Trọng Thành, Giám đốc Khối Phân tích, Công ty Chứng khoán Maybank Việt Nam, xu hướng các ngân hàng sở hữu công ty chứng khoán, bảo hiểm hay quỹ đầu tư thực chất không phải là mới. Từ giai đoạn 2000-2010, tại các thị trường như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan đã hình thành mô hình tập đoàn tài chính “financial holdings”. Hiện nay, Việt Nam đang đi lại đúng con đường mà các thị trường này đã trải qua.
![]() |
Ông Trần Quốc Toàn, Giám đốc Chi nhánh 2 Hội sở, Công ty Chứng khoán Mirae Asset, cho rằng việc các ngân hàng thương mại ráo riết thâu tóm hoặc thành lập công ty chứng khoán, bảo hiểm và quản lý quỹ không còn là xu hướng nhất thời, mà đã trở thành mô hình ngân hàng vạn năng.
Theo ông Toàn, hệ sinh thái tài chính của các ngân hàng Việt Nam đang mở rộng theo hướng đa dịch vụ, nhưng mức độ hoàn thiện có sự phân hóa rõ rệt. Các ngân hàng thuộc Big 4 như Vietcombank, BIDV, VietinBank hay nhóm ngân hàng thương mại cổ phần như Techcombank, MB đã xây dựng hệ sinh thái tương đối đầy đủ, đặc biệt ở các mảng cốt lõi như dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ chủ yếu thông qua công ty con. Ở nhóm ngân hàng tầm trung, hệ sinh thái vẫn còn thiếu mảnh ghép, đặc biệt là quản lý quỹ cho thấy dư địa mở rộng vẫn lớn. Trong khi đó, với mảng bảo hiểm, nhất là mảng nhân thọ và phi nhân thọ lại được triển khai phổ biến hơn theo mô hình hợp tác với bên thứ 3.
“Nếu ngân hàng chỉ đóng vai trò giới thiệu khách hàng sang bên thứ 3, họ sẽ không hiểu hết nhu cầu khách hàng và không kiểm soát được chất lượng sản phẩm. Việc sở hữu hệ sinh thái giúp ngân hàng chủ động thiết kế sản phẩm phù hợp hơn, từ đó tăng số lượng sản phẩm trên mỗi khách hàng”, ông Thành nhấn mạnh.
Giới chuyên gia nhận định, một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy xu hướng hình thành ngân hàng vạn năng hay tập đoàn tài chính là sự giàu lên nhanh chóng của người dân Việt Nam.
Báo cáo của McKinsey chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2011-2021, tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính cá nhân (PFA) tại Việt Nam đạt hơn 15%, cao gần gấp đôi so với nhiều nước trong khu vực châu Á. Đến năm 2027, Việt Nam được dự báo sẽ trở thành thị trường tư vấn tài chính cá nhân trị giá khoảng 600 tỷ USD, tăng trưởng với tốc độ 11% mỗi năm từ mức PFA cơ bản là khoảng 360 tỷ USD tính đến cuối năm 2022.
“Ở góc độ phát triển tự nhiên của nền kinh tế, khi một cá nhân hoặc một hộ gia đình trở nên giàu có hơn, quy mô tài sản tích lũy đủ lớn thì nhu cầu phân bổ tài sản sẽ trở nên đa dạng hơn. Tài sản tài chính sẽ ngày càng đóng vai trò lớn hơn”, ông Thành nhận định.
![]() |
| Báo cáo của McKinsey chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2011-2021, tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính cá nhân (PFA) tại Việt Nam đạt hơn 15%, cao gần gấp đôi so với nhiều nước trong khu vực châu Á. Ảnh: Minh họa A.I |
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, Công ty Chứng khoán An Bình (ABS), chỉ ra một thực tế: trước đây, khách hàng có thể chấp nhận việc sử dụng các sản phẩm rời rạc, đầu tư cổ phiếu ở một nơi, mua trái phiếu ở nơi khác, gửi tiết kiệm hoặc mua bảo hiểm ở một tổ chức khác nữa, nhưng hiện nay, nhu cầu đã thay đổi. Khách hàng không còn muốn di chuyển giữa nhiều nền tảng hay nhiều tổ chức. Họ kỳ vọng tất cả các sản phẩm tài chính, từ cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi đến bảo hiểm, đều được tích hợp tại một điểm duy nhất, thậm chí trên một ứng dụng duy nhất.
Cơ cấu phân bổ tài sản của người dân Việt Nam hiện nay vẫn chưa hợp lý với khoảng 55% nằm ở bất động sản, trong khi cổ phiếu chỉ chiếm 8% và trái phiếu khoảng 1-5%. Trong khi đó, tại các thị trường phát triển, tỷ trọng bất động sản thường chỉ chiếm 15-20%. Điều này cho thấy dư địa dịch chuyển sang các tài sản tài chính trong tương lai là rất rõ ràng.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy, thị trường chứng khoán chỉ mới hình thành từ những năm 2000, thị trường trái phiếu bùng nổ vào giai đoạn 2020-2021 và đến nay các khái niệm về tài sản tài chính đã trở nên phổ biến hơn rất nhiều. Điều này phản ánh một xu hướng là khi tài sản của người dân tăng lên thì nhu cầu đầu tư và phân bổ tài sản sẽ ngày càng phức tạp hơn.
Sức ép từ biểu đồ NIM
Bên cạnh yếu tố khách quan từ nhu cầu của khách hàng, việc hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện cũng trở thành hướng đi tất yếu của ngành ngân hàng. Các ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với một thực tế khắc nghiệt khi những động lực tăng trưởng truyền thống từ tín dụng và lãi suất đang dần chạm ngưỡng giới hạn. Việc hình thành tập đoàn tài chính với hệ sinh thái đa năng không còn là một lựa chọn mở rộng đơn thuần, mà đã trở thành lời giải bắt buộc cho bài toán sinh tồn và thịnh vượng trong dài hạn.
![]() |
Báo cáo của SSI Research chỉ ra một bức tranh đầy thách thức về biên lợi nhuận. Biên lãi thuần (NIM) toàn hệ thống đã giảm xuống mức 3,04% trong quý I/2026, sụt giảm 20 điểm cơ bản so với quý trước và 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân cốt lõi đến từ việc chi phí vốn tăng mạnh trong khi lợi suất tài sản tăng không tương xứng do áp lực cạnh tranh lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nguồn vốn đang trở thành “điểm ràng buộc chính” khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) toàn hệ thống đã vượt ngưỡng 100%, giữa lúc tăng trưởng huy động vẫn duy trì ở mức chậm (đạt 1,5% tính từ đầu năm). Sự căng thẳng về thanh khoản và áp lực nợ xấu buộc các ngân hàng phải tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới nằm ngoài hoạt động cho vay thuần túy.
“Ở góc độ hiệu quả, nếu chỉ dựa vào tín dụng, ROA của ngân hàng thường chỉ đạt khoảng 1,5-1,8%, rất khó vượt 2%. Muốn đạt mức 2-2,5%, ngân hàng bắt buộc phải đẩy mạnh nguồn thu từ phí. Đây chính là động lực cốt lõi khiến các ngân hàng phát triển hệ sinh thái tài chính”, đại diện của Maybank nhận định.
Đại diện của các ngân hàng cũng chia sẻ về chiến lược hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện để đa dạng hóa nguồn thu. Tại Đại hội cổ đông, đại diện của Ngân hàng TPBank đã đề cập đến chiến lược tăng thu ngoài lãi và mở rộng hệ sinh thái để tìm động lực tăng trưởng. Hay đại diện MSB cũng cho biết việc ngân hàng này gia nhập mảng chứng khoán và quản lý quỹ nhằm hoàn thiện mô hình tập đoàn tài chính, mở rộng hệ sinh thái để phục vụ khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và nhóm priority banking.
![]() |
| Bên cạnh yếu tố khách quan từ nhu cầu của khách hàng, việc hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện cũng trở thành hướng đi tất yếu của ngành ngân hàng. Ảnh: TL |
Bức tranh kết quả kinh doanh của các ngân hàng cũng cho thấy, trong bối cảnh tín dụng gặp khó, thu nhập từ phí đã phục hồi mạnh mẽ (tăng 42% so với cùng kỳ trong quý I/2026), được dẫn dắt bởi sự khởi sắc của các dịch vụ liên quan đến thanh toán và bancassurance (mô hình hợp tác giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm). Điển hình như Techcombank, việc chuyển đổi sang mô hình bảo hiểm tự thân đã giúp thu nhập phí bancassurance tăng vọt 103% so với cùng kỳ. VPBank cũng ghi nhận thu nhập từ phí tăng hơn 70% nhờ sự cải thiện ở cả bancassurance và phí thanh toán. MB và TPBank cũng hưởng lợi từ hoạt động thanh toán và thẻ/ngân hàng điện tử phục hồi.
“Việc xây dựng hệ sinh thái không chỉ để “bán hàng” mà còn giúp chính tổ chức tài chính tối ưu dòng vốn của mình. Ví dụ, một công ty chứng khoán nếu nằm trong một hệ sinh thái có ngân hàng, họ có thể tận dụng nguồn vốn nội bộ với chi phí thấp hơn, từ đó cải thiện biên lợi nhuận”, đại diện của ABS nhận định.
Đặc biệt, trong những giai đoạn thị trường chứng khoán kém thuận lợi, nhu cầu cho vay margin giảm, lượng tiền nhàn rỗi trong hệ sinh thái có thể được linh hoạt phân bổ sang các sản phẩm nội bộ khác, thay vì chỉ gửi tiết kiệm với mức sinh lời thấp, giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn của toàn tập đoàn.
Tương lai tăng trưởng dài hạn của ngành ngân hàng còn được củng cố bởi các khung pháp lý mới kể từ năm 2026. Nghị định 232 về kinh doanh vàng dự kiến sẽ mở ra nguồn thu ngoài lãi và cải thiện tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cho những ngân hàng lớn (vốn điều lệ trên 50.000 tỷ đồng) được cấp phép tham gia thị trường vàng miếng.
Mảng tài sản số và vàng được kỳ vọng là động lực dài hạn, tạo ra nguồn thu nhập tích cực cho các công ty chứng khoán và ngân hàng mẹ sau giai đoạn đầu tư mạnh vào công nghệ. Theo dự báo của Công ty Chứng khoán VCBS, tỷ trọng đóng góp từ các mảng mới này sẽ bắt đầu thể hiện rõ nét trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng dẫn đầu kể từ năm 2026.
Đường đua 600 tỷ USD
Nhận thấy tiềm năng chưa được khai thác trên thị trường và cơ hội to lớn từ thị trường quy mô 600 tỷ USD vào năm 2027, nhiều tổ chức khác nhau, gồm cả các tổ chức tài chính và phi tài chính, đang ngày càng tăng cường năng lực để thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiện tại và triển khai các đề xuất quản lý gia sản mới. Trọng tâm của những đề xuất này là các phân khúc khách hàng trên toàn bộ hoạt động kinh doanh quản lý gia sản như khách hàng phổ thông (mass), khách hàng khá giả (affluent) và giới siêu giàu (HNWI).
Sự trỗi dậy của dịch vụ ngân hàng cao cấp (private banking) tại Việt Nam bắt nguồn từ một thực tế không thể phủ nhận khi tốc độ tích lũy tài sản cá nhân đang vượt xa các nước trong khu vực.
![]() |
Nghiên cứu của các tổ chức cho thấy, số lượng khách hàng cực kỳ giàu có (ultra-HNWI với tài sản trên 25 triệu USD) dự kiến sẽ đạt 4.800 người vào năm 2030, tăng mạnh 109% so với năm 2024 và nắm giữ tổng giá trị tài sản ước tính khoảng 280 tỷ USD.
Đáng chú ý, cơ cấu độ tuổi của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu (VNR500) năm 2024 cho thấy một sự phân hóa nhu cầu sâu sắc dựa trên vòng đời. Nhóm lãnh đạo chuẩn bị bước vào giai đoạn chuyển giao di sản (trên 51 tuổi) chiếm tỷ trọng 48,1%, vừa là áp lực cũng vừa là cơ hội khi nhu cầu về kế hoạch kế thừa và bảo toàn gia sản lâu dài cho nhóm này gia tăng. Trong khi đó, nhóm lãnh đạo trẻ (dưới 50 tuổi) chiếm 51,9%, lại thể hiện chân dung của những doanh nhân “số hóa”, những người yêu cầu sự tiện lợi và kỳ vọng mọi sản phẩm tài chính được tích hợp trên một nền tảng “tất cả trong một” để quản lý dòng tiền cá nhân và doanh nghiệp một cách linh hoạt.
Theo phân tích của ông Thành, đối với tầng lớp doanh nhân, nhu cầu của họ không còn đơn lẻ mà chia thành 3 lớp phức tạp: dịch vụ ngân hàng (tín dụng, IPO, M&A); quản lý gia sản; các dịch vụ phi tài chính như tư vấn thuế, kế thừa, định cư hay phong cách sống.
![]() |
| Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, thị trường tài chính chứng kiến một làn sóng dịch chuyển mạnh mẽ của các ngân hàng sang lĩnh vực bảo hiểm tự thân. Ảnh: TL |
Để đáp ứng trọn vẹn “ma trận” nhu cầu này, các chuyên gia quản lý gia sản phải đóng vai trò như một kiến trúc sư tài chính. Họ không chỉ giúp khách hàng thiết kế một tháp tài sản vững chắc mà còn là người đồng hành chiến lược để tách bạch tài chính doanh nghiệp và cá nhân, một điểm yếu cố hữu của nhiều doanh nhân Việt hiện nay.
Bà Nguyễn Thị Hằng Nga, Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF), nhấn mạnh: “Chủ doanh nghiệp không chỉ cần sản phẩm tài chính. Họ cần một đối tác có thể hiểu được văn hóa doanh nghiệp của họ, sứ mệnh gia đình của họ và những rủi ro đặc thù trong ngành nghề của họ”. Theo đó, các đơn vị quản lý gia sản, với vai trò trung gian tài chính chuyên nghiệp, không chỉ đóng góp vào việc khai thông dòng vốn, mà còn là đối tác chiến lược giúp doanh nghiệp và doanh nhân bảo vệ và phát triển tài sản, một nền tảng quan trọng để kinh tế tư nhân có thể bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình của quốc gia.
Tổng Giám đốc của VCBF chỉ rõ 2 khái niệm quản lý tài sản và quản lý gia sản. Quản lý tài sản là việc quản lý các khoản đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư, trong khi quản lý gia sản có cách tiếp cận rộng hơn, bao gồm lập kế hoạch và chiến lược tài chính tổng thể, tức là quản lý gia sản không chỉ bao gồm quản lý đầu tư mà còn lập kế hoạch tài chính, chiến lược thuế, kế hoạch chuyển giao thế hệ và quản trị rủi ro.
Trở lại với đường đua của các ngân hàng, một trong những luận điểm then chốt được các chuyên gia phân tích về sự hình thành tập đoàn tài chính hay hệ sinh thái tài chính toàn diện là khả năng giữ chân khách hàng thông qua độ sâu của hệ sinh thái. “Số lượng sản phẩm trên mỗi khách hàng càng nhiều thì khả năng giữ chân khách hàng càng cao”, đại diện của Maybank nhấn mạnh.
Trong cuộc đua này, các ngân hàng không chỉ muốn làm đại lý trung gian mà phải sở hữu các công ty con để kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị. Xét về cạnh tranh trong ngành ngân hàng, hiện nay nhiều ngân hàng đặt mục tiêu phục vụ tới 30-40 triệu khách hàng, thay vì mức 10-15 triệu khách hàng như trước đây. Đồng thời, họ hướng đến việc mỗi khách hàng sử dụng ít nhất 4-5 sản phẩm, nhằm tăng mức độ gắn bó.
Còn theo ông Minh của ABS, trong bức tranh quản lý tài sản, hệ sinh thái đóng vai trò then chốt. Một tổ chức nếu chỉ cung cấp một sản phẩm, ví dụ chỉ có cổ phiếu, sẽ không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Quản lý tài sản về bản chất giống như một “siêu thị tài chính”, nơi khách hàng có thể tiếp cận đầy đủ các sản phẩm để phân bổ tài sản. Do đó, hệ sinh thái chính là nền tảng để xây dựng mô hình quản lý tài sản hiệu quả. Không có hệ sinh thái, rất khó để triển khai một chiến lược quản lý tài sản hoàn chỉnh.
![]() |
Khi Việt Nam chuyển mình sang nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, diện mạo ngành tài chính đang thay đổi vĩnh viễn. Kỷ nguyên của những “người cho vay thuần túy” đang mờ dần, thay thế bởi những trung tâm tài chính đa năng, đóng vai trò là kiến trúc sư trưởng cho sự thịnh vượng của khách hàng.
“Xu hướng hệ sinh thái tài chính toàn diện là cuộc chơi của những ngân hàng có tiềm lực công nghệ và năng lực quản trị rủi ro vượt trội. Trong tương lai, những ngân hàng chỉ thuần túy cho vay sẽ dần mất lợi thế vào tay các trung tâm tài chính đa năng. Đặc biệt trong bối cảnh thu nhập dân cư ngày càng cao và nhận thức về quản lý tài chính cá nhân ngày càng sâu rộng”, đại diện của Mirae Asset nhận định.
Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư
Tin cùng chuyên mục
-
Vũ Hoài
-
Minh Đức
Tin nổi bật trong ngày
Tin mới
-
Kim Dung

English












